- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Mai Thị M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị M
- Căn cứ chính? Điều 53 Bộ luật Dân sự; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐDS-ST Ngày: 5-6-2020 V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ, TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Thẩm phán
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hoàn - Thư ký Tòa án huyện Đất Đỏ, tỉnh BR-VT.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 5 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 40/2020/TLST-VDS ngày 25 tháng 3 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐST-VDS ngày 25 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Mai Thị M- Sinh năm: 1958; Địa chỉ: 133c/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt)
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Bà Nguyễn Thị Kim P - Sinh năm: 1981 Địa chỉ: Thôn 4 xã S, huyện C, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt)
2.2. Ông Nguyễn Tấn T- Sinh năm: 1983 Địa chỉ: 141/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (Có mặt)
2.3. Ông Nguyễn Thanh T1- Sinh năm: 1985 Địa chỉ: 133/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt);
2.4. Ông Nguyễn Văn T2 - Sinh năm: 1989 Địa chỉ: 133c/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Có mặt).
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Mai Thị M yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1961; Địa chỉ: 133c/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
NHẬN ĐỊNH:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Mai Thị M có quan hệ là vợ ông Nguyễn Thành D yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ tuyên bố chồng là Nguyễn Thành D, sinh năm 1961; Địa chỉ: 133c/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 27, Điểm a khoản 2 Điều 35, Điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Về yêu cầu của đương sự:
Người yêu cầu là bà Mai Thị M trong bản khai và tại phiên họp trình bày:
Sinh thời, bà Mai Thị M và ông Nguyễn Thành D tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1980, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Đ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu.
Qúa trình chung sống, bà M và ông D có với nhau 4 người con chung là Nguyễn Thị Kim P, Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thanh T1 và Nguyễn Văn T2 . Ngoài ra, bà M và ông D không ai có con nuôi riêng, con ngoài giá thú. Ông Nguyễn Thành D có cha là Nguyễn Văn N (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị C (đã chết).
Vào năm 2017, ông D bị tai biến mạch máu não, gia đình đã đưa đi điều trị tại các Bệnh viện nhưng không bình phục. Hiện nay, ông D bị liệt ½ người, đi lại khó khăn, nằm một chổ, không còn nhớ gì, không nói được, mọi sinh hoạt ăn uống và vệ sinh hàng ngày đều phải có người phụ giúp.
Nay, gia đình bà muốn làm thủ tục để cho tặng quyền sử dụng đất cho các con nhưng không thực hiện được do ông D không còn minh mẫn, không nhận thức được hành vi của mình nên không đủ điều kiện để công chứng. Vì vậy, bà M yêu cầu Tòa án tuyên bố ông D mất năng lực hành vi để làm thủ tục phân chia tài sản cho các con theo quy định pháp luật.
Tại các bản khai đề ngày 25-5-2020 và tại phiên họp, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim P, ông Nguyễn Tấn T, ông Nguyễn Thanh T1 và ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Các ông bà có quan hệ là con ruột của bà Mai Thị M và ông Nguyễn Thành D. Nay, tất cả đầu thống nhất như lời trình bày của bà Mai Thị M về quan hệ nhân thân và tình trạng sức khỏe hiện nay của ông D. Do vậy, các con đều đồng ý với yêu cầu của bà M đề nghị Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Thành D mất năng lực hành vi dân sự.
Ngày 27 tháng 3 năm 2020, Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ đã ra quyết định trưng cầu giám định số 01/2020/QĐ-TCGĐ về việc yêu cầu Trung tâm pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa thực hiện giám định năng lực hành vi dân sự đối với ông Nguyễn Thành D. Ngày 13 tháng 5 năm 2020, Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đã có kết luận giám định pháp y tâm thần số: 228/KL-VPYTW kết luận: “Về y học: Đương sự bị bệnh mất trí trong bệnh mạch máu (F01-ICD.10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Tại phiên họp: Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ về việc giải quyết yêu cầu của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ việc và tại phiên họp, Thẩm phán đã tuân thủ các quy định của pháp luật; người yêu cầu thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị M tuyên bố ông Nguyễn Thành D mất năng lực hành vi dân sự.
Xét thấy, theo Điều 22 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi một người bị bệnh T1 thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp tâm thần” đối chiếu với kết luận giám định pháp y tâm thần số: 228/KL-VPYTW ngày 13 tháng 5 năm 2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa đối với ông Nguyễn Thành D và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ đã có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị M về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố ông D mất năng lực hành vi dân sự.
Về việc cử người giám hộ: Xét bà Mai Thị M là vợ hợp pháp của ông Nguyễn Thành D nên căn cứ Điều 46, khoản 1 Điều 53 Bộ luật dân sự thì bà M là người giám hộ đương nhiên của ông D.
3. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Mai Thị M phải chịu lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng)
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 143, 146, 361, 370, 371, 372, 376, 378, 379 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 22, 46, 53 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Mai Thị M
Tuyên bố ông Nguyễn Thành D, sinh năm 1961; Địa chỉ: 133c/Ô1 khu phố T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là người mất năng lực hành vi dân sự.
Thời điểm xác định ông Nguyễn Thành D mất năng lực hành vi dân sự là kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật.
Khi ông Nguyễn Thành D không còn ở trong tình trạng bị tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự thì bà Mai Thị M hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định này.
2. Lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị M phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số TU/2019/0004176 ngày 25 tháng 3 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Bà Mai Thị M đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
3. Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt tại phiên họp thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận quyết định hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND tỉnh BR-VT; - VKSND huyện Đất Đỏ; - Chi cục THADS H. Đất Đỏ; - Đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thị Thanh Tuyền |