vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-HNGĐ — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Thanh M, về việc "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi". Về quan hệ gia đình: Chấm dứt quan hệ mẹ nuôi và con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Thanh M và chị Nguyễn Thúy N. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị Thanh M yeu cau chấm dứt nuôi con nuôi với chị Nguyễn Thúy N"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Nuôi con nuôi; Điều 25 Luật Nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ L
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-HNGĐL, ngày 21 tháng 7 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Từ Quốc Thái Bình

Thư ký phiên họp: Bà Đào Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Nữ - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 7 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 152/2020/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2020, về việc: “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số: 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm: 1955 - Địa chỉ: Cơ sở BTXH Mái ấm tình thương, số 145A đường Ngô Quyền, khu phố 4, phường Tân An, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Thúy N, sinh ngày: 12/01/2002 - Địa chỉ: Cơ sở BTXH Mái ấm tình thương, số 145A đường Ngô Quyền, khu phố 4, phường A, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

(Các đương sự đều xin vắng mặt tại phiên họp)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 18 tháng 5 năm 2020 và các bản tự khai, cũng như đơn đề nghị giải quyết vắng mặt,người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Nguyễn Thị Thanh M trình bày:

Vào năm 2006, bà Nguyễn Thị L đem con gái ruột là chị Nguyễn Thúy N, sinh ngày 12/01/2002 đến Cộng đoàn Đồng Tiến nhờ các tu sĩ giúp cưu mang, nuôi dưỡng chị N và được Cộng đoàn tiếp nhận. Do vậy, bà Nguyễn Thị Thanh M (tu sĩ của Cộng đoàn) nhận chị N làm con nuôi. Việc nhận con nuôi giữa bà M và chị N đã được Ủy ban nhân dân xã A, thị xã L công nhận theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 179/QD-UBND ngày 07/8/2006. Ngày 08/8/2008, bà Nguyễn Thị Thanh M đã làm thủ tục đăng ký khai sinh cho chị Nguyễn Thúy N.

Sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý, chị N được bà M đón về sinh sống cùng, yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng. Hiện nay chị N đã thành niên, có thể tự chăm lo được cho bản thân và có nguyện vọng được về sống cùng với mẹ ruột và gia đình, nên bà Nguyễn Thị Thanh M yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Nguyễn Thúy N.

Tại Bản tự khai ngày 23/6/2020; Đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thúy N trình bày:

Vào năm 2006, chị được bà Nguyễn Thị Thanh M nhận làm con nuôi và được đón về sinh sống tại cộng đoàn Hội Dòng Mến Thánh Giá Đồng Tiến. Chị được bà Nguyễn Thị Thanh M yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng từ đó cho đến nay. Nay chị đã thành niên, có đầy đủ khả năng lao động để nuôi sống bản thân và chị cũng có nguyện vọng được về sinh sống cùng với mẹ ruột, nên việc bà Nguyễn Thị Thanh M yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị thì chị cũng đồng ý và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã L phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng và thời hạn giải quyết trong quá trình giải quyết vụ việc của Toà án đúng theo quy định của pháp luật, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm ra quyết định mở phiên họp.

Về nội dung: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Nguyễn Thị Thanh M đối với chị Nguyễn Thúy N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Thanh M được miễn lệ phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân và gia đình được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã L nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ghi ngày 18/5/2020 của bà Nguyễn Thị Thanh M yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Nguyễn Thúy N, sinh ngày 12/01/2002. Địa chỉ: Số 145A đường Ngô Quyền, khu phố 4, phường A, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 10, Điều 26 Luật Nuôi con nuôi, xác định đây là yêu cầu về hôn nhân và gia đình về việc "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

Về thủ tục: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị Thanh M, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thúy N đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.

Về yêu cầu của đương sự: Chị Nguyễn Thúy N, sinh ngày: 12/01/2002 là con nuôi hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thanh M, được Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến, thị xã L công nhận theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 179/QĐ-UBND ngày 07/8/2006. Sau khi nhận con nuôi, chị N được bà M đón về sinh sống cùng, yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng. Đến nay, chị N đã trưởng thành, có thể tự chăm lo được cho bản thân và chị N cũng có nguyện vọng được về sinh sống cùng với mẹ ruột, nên bà M yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với chị Nguyễn Thúy N. Tại bản tự khai ngày 23/6/2020, chị Nguyễn Thúy N cũng thống nhất với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà M và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác. Xét thấy, việc bà Nguyễn Thị Thanh M và chị Nguyễn Thúy N yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi là tự nguyện, không trái với pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của con nuôi nên được Tòa án chấp nhận. Quyền, nghĩa vụ giữa bà M với chị N chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Do người yêu cầu giải quyết việc dân sự là bà Nguyễn Thị Thanh M thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm l khoản 2 Điều 39; Các Điều 361, 367, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 10, Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi;

- Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị Thanh M, về việc "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi".

Về quan hệ gia đình: Chấm dứt quan hệ mẹ nuôi và con nuôi giữa bà Nguyễn Thị Thanh M và chị Nguyễn Thúy N.

Quyền, nghĩa vụ giữa mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số: 179/QĐ-UBND ngày 07/8/2006 của Ủy ban nhân dân xã Tân Tiến, thị xã L hết hiệu lực.

[2] Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Thanh M được miễn lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.

[3] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Toà án ra quyết định; Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân thị xã L có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ