- Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Hủy việc kết hôn trái pháp luật"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị Võ Thị N: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Võ Thị N với anh Dương Minh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2011 ngày 03/6/2011 của Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG TRỊ Số:01/2020/QĐST-HNGĐ | Gio Linh, ngày 28 tháng 4 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v hủy việc kết hôn trái pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.
Thư ký phiên họp: Ông Lê Thanh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 15/2020/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2020 về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-HNGĐ ngày 03/4/2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu: Chị Võ Thị N, sinh năm 1983;
Trú tại: khu phố 2, thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1, Anh Dương Minh H, sinh ngày: 25/8/1990;
Trú tại: khu phố 2, thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
2, Anh Dương Minh T, sinh ngày: 30/11/1985;
Trú tại: khu phố 2, thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, có mặt.
3, Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị do ông Trần Đình C- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thị trấn C làm đại diện theo pháp luật, vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật” đề ngày 22/11/2019 và tại phiên họp, người yêu cầu chị Võ Thị N trình bày:
Chị Võ Thị N và anh Dương Minh T yêu nhau và tự nguyên kết hôn, nhưng anh Dương Minh T sử dụng giấy tờ của anh Dương Minh H để làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Việc anh Dương Minh T sử dụng tên Dương Minh H để tiến hành đăng ký kết hôn chị Võ Thị N không biết. Vì vậy, chị Võ Thị N có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật với anh Dương Minh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2011 ngày 03/6/2011 của Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thụ lý, tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu theo trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Về quan hệ pháp luật, áp dụng pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Chị Võ Thị N có đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật với anh Dương Minh H. Căn cứ khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”. Căn cứ Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 15 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Việc chị N kết hôn với anh T vào năm 2011, cần áp dụng Luật Hôn nhân gia đình 2000 về mặt nội dung để xem xét, giải quyết yêu cầu của chị Võ Thị N
Về nội dung: Vào ngày 03/6/2011, chị Võ Thị N và anh Dương Minh T đã đến UBND thị trấn C để đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, do trước đó gia đình khó khăn, anh Dương Minh H (là em trai anh Dương Minh H) chưa đủ tuổi lao động nên đã chụp ảnh đi làm chứng minh nhân dân mang anh Dương Minh T để đi làm công nhân phụ giúp gia đình. Anh Dương Minh T ở nhà, cần có giấy tờ tùy thân nên đã lấy ảnh mình đi làm chứng minh nhân dân mang tên Dương Minh H. Khi tiến hành đăng kết hôn với chị Võ Thị N anh Dương Minh T đã sử dụng giấy chứng minh mang tên Dương Minh H, vì vậy Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2011 ngày 03/6/2011 của Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị phần tên chồng mang tên Dương Minh H, tên vợ Võ Thị N và giấy khai sinh của các con anh T và chị N là cháu Dương Ngọc A, sinh ngày 13/10/2011 và cháu Dương Quốc B, sinh ngày 26/7/2014 đều mang tên mẹ là chị Võ Thị N và bố là anh Dương Minh H. Việc anh Dương Minh T sử dụng chứng minh nhân dân tên Dương Minh H để đăng ký kết hôn chị Võ Thị N không biết, khi nhận giấy đăng ký chị cũng không chú ý nên không đọc lại giấy đăng ký mà ký vào giấy và đem về cất. Quá trình sau kết hôn, anh T, chị N chung sống với nhau, có hai con và anh T là người trực tiếp đi khai sinh giấy khai sinh của các con anh T và chị N là cháu Dương Ngọc A, sinh ngày 13/10/2011 và cháu Dương Quốc B sinh ngày 26/7/2014 đều mang tên mẹ là chị Võ Thị N và bố là anh Dương Minh H. Sự việc chị N chỉ biết anh Dương Minh T sử dụng tên Dương Minh H để đăng ký kết hôn và khai sinh cho các con khi làm thủ tục nhập học cho cháu Dương Quốc B học mẫu giáo năm 2018 và cũng trong năm 2018, Công an huyện Gio Linh tiến hành phúc tra hồ sơ đã phát hiện sự việc. Công an huyện Gio Linh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Dương Minh T và anh Dương Minh H mỗi người bị phạt 2.000.000 đồng và làm lại chứng minh nhân dân. Sau khi hoàn tất việc làm lại chứng minh, chị Võ Thị N có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gio Linh hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị N và anh Dương Minh H.
Tại bản tự khai ngày 21/2/2020 của anh Dương Minh H và anh Dương Minh T đều thừa nhận sự việc như chị Võ Thị N trình bày là đúng và có nguyện vọng Tòa án xem xét giải quyết việc hủy hôn nhân giữa chị Võ Thị N và anh Dương Minh H.
Tại công văn số 71/UBND-NC ngày 13/3/2020 của UBND thị trấn Cxác định: Ngày 03/6/2011, UBND thị trấn Ctiến hành đăng ký kết hôn theo tờ khai yêu cầu đăng ký kết hôn của anh Dương Minh H sinh ngày 25/8/1990 và chị Võ Thị N, sinh ngày 19/4/1983 đều thường trú tại khu phố 2, thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Quá trình kiểm tra các giấy tờ tùy thân như: chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, tờ khai đăng ký kết hôn, cán bộ tư pháp - hộ tịch đã xác định đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đã cho tiến hành đăng ký. Việc anh Dương Minh T sử dụng giấy tờ tùy thân của em trai là anh H để đăng ký kết hôn cán bộ tư pháp - hộ tịch không biết.
Xét thấy, việc chị Võ Thị N và anh Dương Minh T đăng ký kết hôn tại trụ sở thị trấn C là hoàn toàn tự nguyện nhưng tại các giấy tờ thủ tục để đăng ký kết hôn anh Dương Minh T đã lấy tên em trai là Dương Minh H để đăng ký kết hôn với chị N. Việc anh Dương Minh T sử dụng giấy tờ chứng minh nhân dân của em trai là Dương Minh H để đăng ký kết hôn với chị Võ Thị N thì N và cán bộ tiến hành đăng ký kết hôn của UBND thị trấn C không biết.
Vì vậy, đủ căn cứ để khẳng định anh Dương Minh H mặc dù có tên trong tờ khai đăng ký kết hôn và giấy chứng nhận kết hôn nhưng anh H không phải là người trực tiếp đi đăng ký kết hôn với chị Võ Thị N mà người đi đăng ký với chị N, cùng chung sống vợ chồng với chị N là anh Dương Minh T. Việc anh Dương Minh T sử dụng tên của en trai Dương Minh H để kết hôn chị Võ Thị N hoàn toàn không biết nên xác định việc kết hôn trên là có sự lừa dối, vi phạm khoản 2 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Căn cứ khoản 1 Điều 10, Điều 11, Điều 12 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì chị Võ Thị N yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật với anh Dương Minh H là hoàn toàn có căn cứ.
Tại phiên họpĐại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh có quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp: Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp đã tuân theo đúng quy định tại Điều 369 BLTTDS về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự.
- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Trên cơ sở nội dung yêu cầu của chị N, bản tự khai, văn bản trình bày ý kiến của những có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đủ căn cứ để hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Võ Thị N và anh Dương Minh H. Vì các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đề nghị Tòa án nhân dânhuyện Gio Linh áp dụng các điều 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 10, 11,12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 37 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật của chị Võ Thị N. Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Võ Thị Nvà anh Dương Minh H theo giấy chứng nhận kết hôn số 18/2011 ngày 03/6/2011của Ủy ban nhân dân thị trấn Cửa Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị
Về lệ phí: Chị Võ Thị N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 29; 35; 361; 369, 370; 371; 372 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Các Điều 10, 11,12, 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị Võ Thị N: Hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị Võ Thị N với anh Dương Minh H theo Giấy chứng nhận kết hôn số 18/2011 ngày 03/6/2011 của Uỷ ban nhân dân thị trấn C, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Võ Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/0000680 ngày 19/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh. Chị Võ Thị N đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.
3. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị; Người yêu cầu và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gio Linh; - TAND tỉnh Quảng Trị; - Chi cục THADS huyện Gio Linh; - UBND thị trấn Cửa Việt; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Kim Oanh |