vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến k… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-HNGĐHải An, ngày 09 tháng 7 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Văn Tuyến

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Kim Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Ông Lê Kim Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 149/2020/TLST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2020 về yêu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 32/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020.

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

+ Chị Ngô Thị Hoài L; địa chỉ: Số 3A/27 đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

+ Anh Nguyễn Đức T; địa chỉ: Số 3A/27 đường T, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 19 tháng 6 năm 2020, trong quá trình tố tụng và tại phiên họp, người yêu cầu là chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T trình bày:

Chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 259/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của chị L và anh T như sau: Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, hiện nay hai con đã lớn, cháu N cần sự chăm sóc của mẹ; cháu M cần sự chăm sóc của bố. Vì vậy, anh chị thống nhất thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người yêu cầu đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu của chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Hải An nhận định:

Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 259/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã công nhận sự thỏa thuận nuôi con của chị L và anh Thuận như sau:

+ Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

+ Giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tuy nhiên, hiện nay hai con đã lớn, cháu N cần sự chăm sóc của mẹ; cháu M cần sự chăm sóc của bố. Vì vậy, anh chị thống nhất thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Xét sự thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị L và anh T là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; phù hợp với lợi ích, nguyện vọng của con; quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và các quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

Về lệ phí: Chị L và anh T phải nộp lệ phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ các điều 82, 83, và 84 của Luật hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ khoản 3 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và các điều 149, 150, 370, 371, 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu công nhận sự thỏa thuận của chị Ngô Thị Hoài L và anh Nguyễn Đức T về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn:

+ Giao con chung Nguyễn Tiến M, sinh ngày 04/5/2014 cho anh Nguyễn Đức T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

+ Giao con chung Nguyễn Lâm Bảo N, sinh ngày 16/5/2010 cho chị Ngô Thị Hoài L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L và anh T tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Lệ phí: Chị L và anh T mỗi người phải chịu 150.000đồng lệ phí việc dân sự sơ thẩm. Chị L và anh T đã nộp đủ số tiền trên tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng (theo biên lai thu số 0005476 và ngày 22/6/2020).

3. Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày, Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ