vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-HNGĐ — Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn của ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:

Về tài sản chung: Giao cho bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại tổ dân phố 12 (Nay là tổ dân phố 10), phường N, thành phố Đ, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 066973 do Ủy ban nhân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "CHIA TS KHILY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn của ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH
PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-HNGĐĐiện Biên Phủ, ngày 06 tháng 02 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung

nợ chung sau khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Nhung;

Thư ký phiên họp: Ông Bùi Minh Thắng;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 02 năm 2020, tại phòng họp Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên; mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2020; về việc: "Yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn", theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị T; cùng địa chỉ: Tổ dân phố 10, phường N, thành phố Đ, tỉnh B - Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Tên viết tắt: Agribank); địa chỉ trụ sở: Số 02, đường L, phường T, quận B, thành phố H; Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết V - Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ A; Giám đốc Agribank chi nhánh huyện Đ; địa chỉ: Tổ dân phố 06, phường N, thành phố Đ, tỉnh B - Xin vắng mặt.

Nội dung yêu cầu: Yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu ngày 07/01/2020 và quá trình giải quyết, ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị T trình bầy:

Ông K và bà T đã ly hôn nhưng chưa giải quyết về tài sản chung và nợ chung; nay hai bên đề nghị Tòa án công nhận về việc phân chia tài sản chung và nợ chung có trong thời kỳ hôn nhân như sau:

Về tài sản chung: Nhà và đất tại tổ dân phố 12 , phường N, thành phố Đ, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 066973 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh B cấp ngày 22 tháng 10 năm 2015 là tài sản chung của ông K và bà T, hai bên thỏa thuận: Bà T được quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất; bà T phải trả cho ông K số tiền 200.000.000 đồng giá trị nhà đất.

Về nợ chung: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thỏa thuận phân chia nói trên, bà T và ông K đã thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh huyện Đ để vay số tiền 400.000.000 đồng; bà T có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ này và lãi phát sinh cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Lệ phí: Hai bên thỏa thuận bà T chịu toàn bộ.

Tại văn bản trả lời thông báo thụ lý ngày 20/01/2020, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đ trình bầy:

Ông K và bà T có thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại tổ dân phố 12, phường N, thành phố Đ, tỉnh B (Giấy chứng nhận số BG 066973 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh B cấp ngày 22/10/2015 cho Ngân hàng để vay số tiền 400.000.000 đồng. Ngân hàng đồng ý với sự thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung, nợ chung như ông K, bà T đã trình bày ở trên và không có yêu cầu độc lập trong việc này.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Thẩm phán và Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự kể từ khi thụ lý cho đến khi mở phiên họp. Việc yêu cầu Tòa án công nhận sự phân chia tài sản chung, nợ chung có trong thời kỳ hôn nhân, cũng như sự thỏa thuận về lệ phí giải quyết việc dân sự của ông K và bà T là tự nguyện và có cơ sở pháp luật, đề nghị Tòa án chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhận định:

Về thẩm quyền: Yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn của ông Nguyễn Đ và bà Nguyễn Thị T, cùng có địa chỉ tại phường N, thành phố Đ, tỉnh B thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên theo khoản 11 Điều 29, Điểm b khoản 2 Điều 35; điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về việc thụ lý yêu cầu: Ngày 07/01/2020 ông K và bà T nộp cho Tòa án đơn yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn; cùng ngày bà T nộp cho Tòa án biên lai thu lệ phí và Tòa án đã thụ lý yêu cầu của ông K và bà T theo Điều 363 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung.

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 82/2018/QĐST-HNGĐ ngày 09/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên công nhận ông K và bà T thuận tình ly hôn, không có nội dung giải quyết về tài sản chung và nợ chung.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 066973 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh B cấp ngày 22/10/2015 mang tên bà T; tài sản này đang được thế chấp tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Chi nhánh huyện Đ để vay tiền. Việc các bên yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận phân chia tài sản và nợ với nội dung: Giao quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho bà T; bà T trả cho ông K một phần giá trị nhà đất bằng tiền và trả toàn bộ nợ cho Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm đạo đức xã hội, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên và có căn cứ để chấp nhận theo Điều 213 Bộ luật Dân sự và Điều 59 của Luật hôn nhân và Gia đình.

Lệ phí việc dân sự: Bà T chịu toàn bộ lệ phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 11 Điều 29, Điểm b khoản 2 Điều 35, điểm h khoản 2 Điều 39, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 149 Bộ luật tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 213 Bộ luật Dân sự; Điều 59 Luật hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu công nhận thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung sau khi ly hôn của ông Nguyễn K và bà Nguyễn Thị T, cụ thể như sau:

Về tài sản chung:

- Giao cho bà Nguyễn Thị T quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại tổ dân phố 12 (Nay là tổ dân phố 10), phường N, thành phố Đ, tỉnh B theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 066973 do Ủy ban nhân dân thành phố Đ, tỉnh B cấp ngày 22 tháng 10 năm 2015.

- Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn K một phần giá trị nhà đất là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Điện Biên 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng) tiền nợ gốc và toàn bộ lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 8903-LAV-20190 3043 ngày 31/10/2019 giữa Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Đ với bà Nguyễn Thị T.

2. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn K cho đến khi thi hành xong khoản tiền phải trả, hàng tháng bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Lệ phí: Bà Nguyễn Thị T chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2010/08189 ngày 07/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh B.

4. Kháng cáo, kháng nghị:

Người yêu cầu, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; nếu những người này vắng mặt tại phiên họp, thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5. Thi hành án dân sự: Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ