- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐST-DS | Thị xã Hồng Ngự, ngày 18 tháng 02 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức,
làm chủ hành vi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Phương Thảo.
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Kim Loan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Minh Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2020/TLST-VDS ngày 07 tháng 01 năm 2020 về việc tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2019/QĐST-DS ngày 03 tháng 02 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1967
Địa chỉ: khóm A, phường B, thị xã N, Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973
Địa chỉ: khóm B, phường B, thị xã N, Đồng Tháp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
- Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 02/01/2020 và trong quá trình giải quyết việc dân sự, cũng như tại phiên họp hôm nay bà Nguyễn Ngọc T trình bày:
Các anh chị em của bà đang khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ chia thừa kế tài sản của cha mẹ bà sau khi chết để lại, trong đó có nguyên đơn là ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973, địa chỉ: khóm B, phường B, thị xã N, Đồng Tháp về lịch sử bản thân: Lúc nhỏ, sự phát triển tâm thần chậm hơn so với tuổi, không nói được. Lớn lên, khù khờ, chậm chạp, giao tiếp hạn chế qua cử chỉ điệu bộ, quan hệ xã hội kém, không nghề nghiệp ổn định, phụ thuộc vào gia đình, làm được việc nhà cơ bản nhưng cần sự giám sát.
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 02/01/2020 bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973, địa chỉ: khóm B, phường B, thị xã N, Đồng Tháp là người mất năng lực hành vi dân sự. Nhưng theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu ngày 05/11/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thì kết luận ông Nguyễn Tấn T có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Nên nay bà Nguyễn Ngọc T thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973, địa chỉ: khóm B, phường B, thị xã N, Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Mục đích là để yêu cầu Tòa án chỉ định bà làm người giám hộ cho em bà là ông Nguyễn Tấn T để đại diện em bà đứng ra giải quyết các giao dịch dân sự mà ông T đã tham gia và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật, trong đó có việc ông Nguyễn Tấn T khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Tấn Đ chia thừa kế tài sản do cha mẹ để lại.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973 (là người bị yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi) không có văn bản hay ý kiến gì gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973 là người thành niên do tình trạng thể chất, tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự. Theo nội dung thay đổi yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T là yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chứ không yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Tấn T là người mất năng lực hành vi dân sự. Việc bà T thay đổi yêu cầu không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định Điều 5, khoản 1 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Tấn T do hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần nên vắng mặt tại phiên họp. Tại phiên họp, bà Nguyễn Ngọc T và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự cũng thống nhất đề nghị tiến hành phiên họp vắng mặt ông T. Căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt đối với ông T.
Xét thấy, căn cứ theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu ngày 05/11/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ thì ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973 có biểu hiện như sau: Về ý thức: Tỉnh, khù khờ, tiếp xúc chậm; Về định hướng lực: Không trả lời được; Về cảm xúc: Ít biểu lộ; Về tư duy: Nhịp chậm, ú ớ từng tiếng không rõ nghĩa, giao tiếp hạn chế qua cử chỉ điệu bộ, chưa ghi nhận hoang tưởng; Về tri giác: Chưa ghi nhận ảo giác; Về hành vi: Chậm chạp; Về khả năng tập chung chú ý: Kém; Về trí nhớ, trí năng: Kém. Kết luận: Về y học: Hiện tại đương sự có bệnh lý tâm thần, chậm phát triển tâm thần khác (F78 – ICD10); Về năng lực: Hiện tại đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần. Đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Từ đó cho thấy ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự nên việc bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là có căn cứ nên chấp nhận.
Xét việc bà Nguyễn Ngọc T yêu cầu tuyên bố ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mục đích là để yêu cầu Tòa án chỉ định bà làm người giám hộ cho em bà là ông Nguyễn Tấn T để đại diện em bà đứng ra giải quyết các giao dịch dân sự mà ông T đã tham gia và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật. Ông Nguyễn Tấn T hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần nên không thể hiện ý chí của mình về việc ai là người giám hộ cho ông. Ngoài ra, bà Nguyễn Ngọc T xác nhận ông T hiện nay không có vợ, là người độc thân, có xác nhận của chính quyền địa phương nên tất cả các anh chị em thống nhất tự nguyện giao cho bà Nguyễn Ngọc T đứng ra làm người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn T (có trích lục đăng ký giám hộ số 01/TLGH ngày 07/6/2018 của UBND phường B). Mặt khác, bà Nguyễn Ngọc T cũng tự nguyện yêu cầu Tòa án chỉ định bà làm người giám hộ cho ông T. Xét sự tự nguyện của bà T không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Do đó, Tòa án chỉ định bà Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1967, địa chỉ: khóm A, phường B, thị xã N, Đồng Tháp làm người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn T là phù hợp theo quy định tại Điều 23, Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bà Nguyễn Ngọc T thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo đúng quy định tại Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2015.
Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ việc đề nghị: Tại phiên họp bà Nguyễn Ngọc T thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Việc thay đổi yêu cầu của bà T không vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu. Xét thấy, việc người yêu cầu thay đổi yêu cầu là phù hợp có căn cứ. Do đó, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T; Tuyên bố ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự là có căn cứ nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 23, Điều 46, Điều 47, Điều 48, Điều 57 và Điều 58 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 5, khoản 1 Điều 27, Điều 149, Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc T.
- Tuyên bố: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1973, địa chỉ: khóm B, phường B, thị xã N, Đồng Tháp là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Tòa án chỉ định bà Nguyễn Ngọc T (là chị ruột ông T) làm người giám hộ cho ông Nguyễn Tấn T. Bà Nguyễn Ngọc T thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với ông Nguyễn Tấn T là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo đúng quy định pháp luật.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Ngọc T phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0004571 ngày 07/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hồng Ngự.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp đương sự không có mặt tại phiên họp giải quyết việc dân sự thì thời hạn được tính từ ngày đương sự nhận quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hồng Ngự có quyền kháng nghị quyết định sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thị xã Hồng Ngự; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Phương Thảo |