- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thị Xen"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Quốc H. Tuyên bố bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 hộ khẩu thường trú tại Thôn ĐX, xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ TỈNH HƯNG YÊN Số 01/2020/QĐST-DS | Tiên lữ, ngày 07 tháng 9 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LỮ, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Đoàn Mạnh Quang Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lữ. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 02/2020/TLST-VDS ngày 15 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2020/QĐST-VDS ngày 24 tháng 8 năm 2020 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Ông Bùi Quốc H, sinh năm 1967 “có mặt”
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 “vắng mặt”
- Chị Bùi Thị T, sinh năm 1990 “vắng mặt.
- Chị Bùi Thị Nh, sinh năm 1993 “vắng mặt”
- Chị Bùi Thị L, sinh năm 1995 “vắng mặt” Đều có địa chỉ: Thôn ĐX, xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Trong đơn yêu cầu, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu giải quyết việc dân sự ông Bùi Quốc H trình bày.
Ông và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 quê quán thôn LC, xã TL, huyện T, tỉnh Hưng Yên đăng ký kết hôn năm 1988 tại UBND xã C, huyện T. Sau khi kết hôn bà X chuyển hộ khẩu thường trú về gia đình ông tại thôn ĐX, xã C. Thời gian này bà X vẫn lao động, sản xuất bình thường không có biểu hiện gì và sinh được ba người con là Bùi Thị T sinh năm 1990, Bùi Thị Nh sinh năm 1993, Bùi Thị L sinh năm 1995. Đến cuối năm 1996 bà X có biểu hiện bất thường như mất ngủ, hay đi lang thang, cười nói một mình. Đầu năm 1997 ông đưa bà X đi khám và điều trị tại Bệnh viện tâm thần kinh ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương một thời gian dài nhưng không khỏi bệnh, bà X được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt, được cấp sổ uống thuốc tại cộng đồng. Do bệnh tình tái phát nhiều lần nên tháng 7/2004 bà X được tiếp nhận vào khu điều dưỡng tâm thần kinh Hưng Yên điều trị khoảng 7- 8 năm thì sức khỏe yếu, Trung tâm điều dưỡng đã báo cho gia đình ông đón bà X về nhà chăm sóc. Từ đó đến nay bệnh tình của bà X vẫn thường xuyên tái phát và có biểu hiện nặng hơn.
Ngày 19/02/2020 gia đình tiếp tục đưa bà X đi điều trị tại Bệnh viện tâm thần kinh Hưng Yên, đến ngày 18/3/2020 bà X ra viện được cấp sổ điều trị ngoại trú tâm thần, được cấp phát thuốc hàng tháng miễn phí tại Trạm y tế xã C. Từ khi bị bệnh đến nay, ông và các con đã tận tình chăm sóc nhưng bà X không khỏi bệnh. Ông H đề nghị Tòa án Tòa án trưng cầu giám định sức khỏe tâm thần đối với bà X và tuyên bố bà X bị mất năng lực hành vi dân sự.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị T, chị Bùi Thị Nh, chị Bùi Thị L trình bày: Mẹ các chị là bà Nguyễn Thị X trước đây là người khỏe mạnh bình thường, sau khi sinh được ba người con thì có những biểu hiện bất thường như cười nói một mình, hay đi lang thang…, thời gian đó các chị còn nhỏ nên chưa nhận thức được sự việc chỉ nghe bố kể lại. Khi các chị trưởng thành thấy bệnh tình của mẹ ngày càng nặng hơn, gia đình đưa đi chữa trị ở nhiều nơi nhưng không khỏi. Hiện nay, bà X đang được điều trị ngoại trú cấp phát thuốc hàng tháng miễn phí tại Trạm y tế xã C. Quan điểm của các chị hoàn toàn nhất trí cử ông H là người đại diện hợp pháp yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Nguyễn Thị X. Do công việc bận, ở xa không thể đến Tòa án được nên các chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ việc.
Nhận xét của Trưởng thôn ĐX và nhận xét của hàng xóm: Bà Nguyễn Thị X trước đây là người khỏe mạnh bình thường không có biểu hiện gì. Từ năm 1997 sau khi sinh được ba người con thì bà X có những biểu hiện bất thường như: Đi lang thang, cười nói một mình, lúc kích động thì đập phá đồ đạc, đánh người…. Bà X đã được gia đình đưa đi chữa trị ở Bệnh viện tâm thần kinh Hải Dương, Bệnh viện tâm thần kinh Hưng Yên và được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt thể không biệt định. Hiện nay bà X đang điều trị tâm thần ngoại trú, được cấp phát thuốc hàng tháng miễn phí.
Nhận xét của Trạm y tế xã C xác nhận bà Nguyễn Thị X hiện đang điều trị ngoại trú tâm thần và được cấp phát thuốc hàng tháng miễn phí tại Trạm y tế xã C.
Theo yêu cầu của ông Bùi Quốc H, ngày 10/6/2020 Tòa án huyện Tiên Lữ ra Quyết định trưng cầu giám định số 01/2020/QĐ-TA trưng cầu Viện Pháp y tâm thần Trung ương thực hiện giám định khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi của bà Nguyễn Thị X tại thời điểm giám định. Tại bản kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số 79/KLGĐ ngày 07/8/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương thể hiện: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Thị X bị bệnh Tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
Tại phiên họp: Ông Bùi Quốc H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố bà Nguyễn Thị X bị mất năng lực hành vi dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị T, chị Bùi Thị Nh, chị Bùi Thị L có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lữ tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ; Thẩm phán, Thư ký phiên họp tuân thủ theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự; người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ khi tham gia tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Quốc H; tuyên bố bà Nguyễn Thị X mất năng lực hành vi dân sự. Ông Bùi Quốc H phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ nhận định:
. Về tố tụng: Ông Bùi Quốc H yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị X mất năng lực hành vi dân sự, bà X có hộ khẩu thường trú tại Thôn ĐX, xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên nên việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lữ theo quy định tại Khoản 1 Điều 27; Điểm a Khoản 2 Điều 35; Điểm a Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Bùi Thị T, chị Bùi Thị Nh, chị Bùi Thị L đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án huyện Tiên Lữ tiến hành phiên họp theo quy định.
.Về yêu cầu của đương sự: Ông Bùi Quốc H kết hôn với bà Nguyễn Thị X năm 1988 , đăng ký tại UBND xã C, huyện T. Sau khi kết hôn bà X vẫn lao động, sản xuất bình thường sinh được ba người con. Đến cuối năm 1996 bà X có biểu hiện bất thường như mất ngủ, hay đi lang thang, cười nói một mình… Đầu năm 1997 ông H đưa bà X đi khám và điều trị ở Bệnh viện tâm thần kinh ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương và được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt, được cấp sổ uống thuốc tại cộng đồng. Sau đó bệnh tình của bà X không thuyên giảm, gia đình đã đưa bà đi chữa trị ở nhiều nơi nhưng không khỏi bệnh. Ông H đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị X bị mất năng lực hành vi dân sự. Chị Bùi Thị T, Bùi Thị Nh và Bùi Thị L là các con trình bày thống nhất với ý kiến của ông H.
Nhận xét của Trưởng thôn ĐX, nhận xét của hàng xóm và nhận xét của Trạm y tế xã C đều xác nhận bà Nguyễn Thị X bị bệnh tâm thần phân liệt từ nhiều năm nay, hiện đang điều trị ngoại trú tâm thần và được cấp phát thuốc hàng tháng miễn phí tại Trạm y tế xã C.
Trong quá trình giải quyết ông H đề nghị trưng cầu giám định sức khỏe tâm thần đối với bà X. Tại bản kết luận giám định sức khoẻ tâm thần số 79/KLGĐ ngày 07/8/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương kết luận: “Tại thời điểm giám định đối tượng Nguyễn Thị X bị bệnh Tâm thần phân liệt thể di chứng. Theo bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F20.5. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Do vậy, yêu cầu của ông H đề nghị Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị X bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Ông Bùi Quốc H phải chịu lệ phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 27, Điểm a Khoản 2 Điều 35, Điểm a Khoản 2 Điều 39, Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của ông Bùi Quốc H. Tuyên bố bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1970 hộ khẩu thường trú tại Thôn ĐX, xã C, huyện T, tỉnh Hưng Yên mất năng lực hành vi dân sự. Giao dịch dân sự của bà Nguyễn Thị X phải do ông Bùi Quốc H là người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Bùi Quốc H phải chịu lệ phí là 300.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu số 0000591 ngày 15/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lữ. Ông H đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Người yêu cầu có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện; - VKSND tỉnh Hưng Yên - Chi cục THADS huyện; - Phòng KTNV&THA; - Lưu: Hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Đoàn Mạnh Quang |