vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/01/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp toàn bộ lệ phí cho bà N. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Đào Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐST-DSThuỷ Nguyên, ngày 06 tháng 01 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Văn Dũng.

Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên họp: Bà Đồng Thị Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2020, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 105/2019/TLST-DS ngày 13 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 17/2019/QĐST-DS ngày 30 tháng 12 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đào Thị N sinh năm 1955; địa chỉ: Thôn 1, xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt);

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Đào Thị N trình bày: Bà N và ông Lê Văn Q chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1978 nhưng không đăng ký kết hôn. Sau khi được gia đình tổ chức lễ cưới, vợ chồng bà sinh sống tại thôn 8, xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên; đến năm 1980 chuyển sang vùng kinh tế mới ở thôn 1, xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng làm ăn, sinh sống. Đến ngày 09 tháng 10 năm 2000 ông Lê Văn Q tự ý bỏ nhà đi đâu, làm gì không rõ, không báo cho bà và người thân cũng như chính quyền địa phương biết. Từ ngày 09 tháng 10 năm 2000 cho đến nay bà và người thân đã tìm kiếm khắp nơi, đã trình báo chính quyền địa phương và áp dụng nhiều biện pháp tìm kiếm ông Q nhưng đều không có tin tức gì. Nay bà N làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Lê Văn Q là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng nhận định:

Về tố tụng: Bà Đào Thị N đã được Tòa án triệu tập đến phiên họp lệ nhưng có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên họp, căn cứ vào Điều 367 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành phiên họp vắng mặt bà Đào Thị N.

Những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu người yêu cầu: Bà N và ông Q chung sống với nhau từ năm 1978, đến ngày 09/10/2000 ông Lê Văn Q tự ý bỏ nhà đi cho đến nay không có tin tức gì. Trước khi gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q là đã chết, bà N đã áp dụng biện pháp tìm kiếm ông Q bằng hình thức đăng báo nhưng không có tin tức gì về ông Q. Sau khi thụ lý yêu cầu của bà N, Tòa án đã ra Quyết định số 02/QĐ-TA và Thông báo số 02/TB-TA cùng ngày 21 tháng 3 năm 2019 tìm kiếm ông Q trên các phương tiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật. Thời gian 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo đầu tiên đã hết nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông Q là còn sống. Vậy đủ căn cứ xác định ông Q đã biệt tích 05 năm liền trở lên và ngày có tin tức cuối cùng về ông Q là ngày 09/10/2000. Do vậy, Tòa án chấp nhận đơn của bà N về việc yêu cầu tuyên bố ông Lê Văn Q là đã chết.

Về lệ phí: Bà N là người cao tuổi nên được miễn nộp lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Về quyền kháng cáo: Bà Đào Thị N có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn do pháp luật quy định.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các điều 71 và 72 của Bộ luật Dân sự; các điều 149 và 393 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; tuyên bố: Ông Lê Văn Q sinh năm 1955; địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn 1, xã Gia Minh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là đã chết. Ông Lê Văn Q đã chết ngày 09/10/2000.

- Kể từ ngày quyết định này có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết như đối với người đã chết; tài sản của ông Lê Văn Q được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Miễn nộp toàn bộ lệ phí cho bà N.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Đào Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định này hoặc kể từ ngày quyết định này được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ