vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐ-TA

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 08/01/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với:

Bế Văn N, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1992; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bế Văn N"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với:
  • Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐ-TATràng Định, ngày 08 tháng 01 năm 2020.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Triệu Thị Máy.

2. Thư ký phiên họp: Bà Lã Minh Ngà.

Ngày 08 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 22/QĐ-TA ngày 31 tháng 12 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Bế Văn N. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 11 tháng 5 năm 1992.

CMND số:…..Ngày cấp…..Nơi cấp: Không có.

Dân tộc: Tày.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: Lớp 9/12.

Nguyên quán: xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Tiền án: Không có; tiền sự: Bế Văn N bị Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 67/QĐ-UBND, ngày 22/7/2019 với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 22/7/2019 đến 22/10/2019.

Con ông: Bế Văn C và con bà Lý Thị K.

Bế Văn N. Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn: Ông Nông Văn Khánh, chuyên viên Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn: Ông Hoàng Ngọc Tư, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Bế Văn N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an xã Q, huyện Tràng Định đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân xã Q đưa Bế Văn N vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 22/7/2019 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã ra Quyết định số 67/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bế Văn N với thời hạn là 03 tháng đến ngày 22/10/2019 thì được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.

Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn Bế Văn N vẫn nghiện và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại biên bản kiểm tra dùng Test thử đối với người sử dụng ma túy ngày 28/11/2019 của Trạm y tế xã Q, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xác định Bế Văn N nghiện ma túy, kết quả xét nghiệm: Dương tính với chất ma túy Heroine. Công an huyện Tràng Định đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp hôm nay:

Đại diện cơ quan đề nghị là Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, trình bày ý kiến: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị đã có các tài liệu chứng minh liên quan đến hành vi vi phạm sử dụng trái phép chất ma túy của Bế Văn N. Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa Bế Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 18 (mười tám) đến 20 (hai mươi) tháng.

Tại phiên họp hôm nay người bị đề nghị Bế Văn N có mặt, trình bày: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2018, đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Nay bản thân vẫn sử dụng, bằng hình thức chích, biết việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, thấy rất hối hận về việc sử dụng trái phép chất ma túy, nhất trí đi cai nghiện với mức đề nghị của Phòng lao động, Thương binh - Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định 20 (hai mươi) tháng, tôi đề nghị Tòa án xem xét áp dụng mức 20 tháng, để tôi sớm được về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bế Văn N đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện theo đúng luật định, người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp chấp hành đúng quy định của pháp luật. Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bế Văn N, đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo hồ sơ đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, ý kiến của Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

[

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bế Văn N được thực hiện như sau:

Xét về tài liệu chứng cứ trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, thì: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị theo quy định; có Quyết định số 67/QĐ-UBND ngày 22/7/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Tràng Định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Bế Văn N phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật xử lý vi phạm hành chính; trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh hành vi vi phạm pháp luật của Bế Văn N, thể hiện rõ hành vi vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; hồ sơ đã có bản tường trình đầy đủ của người vi phạm Bế Văn N.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 20/11/2019 là ngày Bế Văn N thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1992, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo khoản 2 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính, người nghiện ma túy do Công an cấp huyện phát hiện, điều tra, thuộc đối tượng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thì cơ quan Công an thu thập tài liệu và lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bế Văn N là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi: Thì hành vi vi phạm của Bế Văn N là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, hành vi trên của Bế Văn N chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Bế Văn N đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã Q, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Bế Văn N đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Xét về nhân thân: Bế Văn N không có tiền án, nhưng có một tiền sự. Xác định Bế Văn N có nhân thân xấu.

Bản thân Bế Văn N có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý Nhà nước, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi vi phạm đó của Bế Văn N cần phải xử lý nghiêm.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa Bế Văn N vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 đến 20 tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Bế Văn N gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Bế Văn N trong một thời gian nhất định, thì mới có thời gian để Bế Văn N lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Bế Văn N trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa tội phạm chung. Mức đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Bế Văn N đã gây ra, nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106, Điều 107 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định 136/2016/NĐ-CP, ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Lạng Sơn đối với:

Bế Văn N, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1992; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn P, xã Q, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 (hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động, Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện Tràng Định đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ