- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, giữa nguyên đơn ông M với bị đơn ông N"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông N đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2020/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 02 tháng 01 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
KHÔNG CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Hoàng Anh.
- Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Văn Toàn.
2. Ông Nguyễn Hoàng Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sạch - Kiểm sát viên.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 18/12/2019 bị đơn ông N nộp đơn kháng cáo quá hạn (đơn đề ngày 18/12/2019) trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng để kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng, với nội dung: Trước đây ông có vay của ông M 20.000.000đồng nhưng ông M tính lãi ra thành 70.000.000đồng, ông không đồng ý trả cho ông M 70.000.000đồng mà chỉ đồng ý trả 20.000.000đồng.
XÉT THẤY:
Việc kháng cáo của ông N là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc kháng cáo quá hạn: Qua xem xét tài liệu chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn có trong hồ sơ, thể hiện vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 29/11/2019 Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”, giữa nguyên đơn ông M với bị đơn ông N cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà P và tuyên án cùng ngày 29/11/2019. Ông N có mặt tại phiên tòa sơ thẩm từ lúc khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa, kể cả thời điểm Hội đồng xét xử tuyên án và ông N cũng được nghe Chủ tọa phiên tòa giải thích về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (nội dung phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng có nêu về thời hạn kháng cáo này). Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc cấp, tống đạt bản án sơ thẩm cho ông N nhận vào ngày 09/12/2019 là trong thời hạn 10 ngày phát hành bản án sơ thẩm cho đương sự theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án vào ngày 29/11/2019 nên tính đến hết ngày 16/12/2019 là hết thời hạn kháng cáo, nhưng mãi đến ngày 18/12/2019 ông N mới nộp đơn kháng cáo là trễ hạn 02 ngày so với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Tờ tường trình đề ngày 18/12/2019 và tại phiên họp, ông N cho rằng: Ông kháng cáo quá hạn là do vào ngày 13/11/2019 âm lịch (tức ngày 07/12/2019) mẹ vợ ông là bà Q qua đời, vì lo làm đám tang cho bà Q nên ông không đi làm đơn kháng cáo được dẫn đến kháng cáo trễ hạn.
Xét thấy, theo phong tục làm tang lễ của người miền Tây thì đám tang chỉ diễn ra trong khoảng thời gian từ 03 đến 04 ngày, tại phiên họp ông N cũng thừa nhận sau khi bà Q qua đời 03 ngày thì chôn, bà Q qua đời vào ngày 07/12/2019 nên tính đến thời điểm cuối cùng của thời hạn kháng cáo ngày 16/12/2019 là còn thời gian đến 09 ngày; đám tang của bà Q cũng được tổ chức tại cùng nơi ông N cư trú là ấp C, xã B, huyện A, tỉnh Sóc Trăng nên ông N cũng không mất quá nhiều thời gian để đi lại; do đó ông N hoàn toàn có thể thực hiện được quyền kháng cáo của mình trong thời hạn kháng cáo. Đồng thời, theo nội dung Biên bản cấp, tống đạt văn bản tố tụng (tại Bút lục số 12) xác định ông N đã trực tiếp đến trụ sở Tòa án cấp sơ thẩm để nhận bản án sơ thẩm vào ngày 09/12/2019 (tức là chỉ 01 ngày sau ngày bà Q qua đời) nên việc ông N cho rằng vì lo làm đám tang cho bà Q nên ông N không đi làm đơn kháng cáo được dẫn đến kháng cáo trễ hạn là không có căn cứ để chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với tinh thần hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về lý do chính đáng là: “Trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện,...) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định” thì lý do kháng cáo quá hạn mà ông N đưa ra là không chính đáng, nên không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, phát biểu về nội dung kháng cáo quá hạn và cho rằng lý do kháng cáo quá hạn mà ông N đưa ra là không chính đáng nên đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn không chấp nhận. Xét đề nghị này của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là có căn cứ như nhận định nêu trên.
Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông N đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 112/2019/DS-ST ngày 29/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Sóc Trăng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND huyện A; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Ông N; - Lưu hồ sơ vụ án. | Võ Hoàng Anh |