vanban.org

Quyết định 01/2020/QĐ-PT — Tranh chấp hợp đồng hợp tác

TAND tỉnh Hà Giang Tuyên án 10/12/2020 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/12/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H về việc “Tranh chấp hợp đồng khoán việc”.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Duy M phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số BB/2018/0002338 ngày 30/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng hợp tác — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng khoán việc"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H về việc “Tranh chấp hợp đồng khoán việc”.
  • Căn cứ chính? Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2020/QĐ-PTHà Giang, ngày 10 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Trương Huy Huân

Các Thẩm phán: ông Hoàng Đức Trường

bà Hoàng Thị Vân

Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Văn Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp: bà Lâm Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020, Tòa án nhân dân thành phố H đã căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219 và khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự giữa:

Nguyên đơn: ông Ngô Duy M; Địa chỉ: số nhà , đường P, tổ , phường T, thành phố H, tỉnh H.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Ngô Duy M: ông Ngô Trung K; Địa chỉ: Số nhà , đường N, tổ , phường T, thành phố H, tỉnh H.

Bị đơn: bà Phạm Thị T; Địa chỉ: tổ 17, đường P, phường T, thành phố H, tỉnh H.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T: chị Mai Thùy D; Địa chỉ: tổ , đường P, phường T, thành phố H, tỉnh H.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Mai Văn T; Địa chỉ: Số nhà , đường P, tổ , phường T, thành phố H, tỉnh H;

Chị Mai Thùy D; Địa chỉ: tổ , đường P, phường T, thành phố H, tỉnh H;

Anh Mai Trung D; Địa chỉ: tổ , đường P, phường T, thành phố H, tỉnh H.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 27/10/2020, ông Ngô Duy M không đồng ý với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H với lý do bà Phạm Thị T đã nhiều lần hứa sẽ trả cho ông đủ 32m đất như thỏa thuận nên ông không khởi kiện và cho rằng thời hiệu khởi kiện vẫn còn nên đề nghị cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trên.

Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng phúc thẩm thực hiện đúng trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Căn cứ vào các Điều 48, 217, 218, 219, điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng phúc thẩm bác kháng cáo của ông Ngô Duy M, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Dân sự sơ thẩm số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H.

XÉT THẤY:

Ngày 16/12/2008, bà Phạm Thị T và ông Mai Mạnh T với ông Ngô Duy M ký kết hợp đồng kinh tế số 05/HĐKT về việc san ủi mặt bằng, ông Ngô Duy M có trách nhiệm san đào đất đồi kích thước dài 141m sâu 25m giật 02 cấp 03m độ dốc 1/0.75m. Bà T, ông T có trách nhiệm thanh toán và chuyển tên tách bìa đỏ thuộc số bản đồ 03 tờ số 28 mang tên ông Mai Mạnh T sang cho ông Ngô Duy M theo diện tích đất vườn dài 52m bám bên mặt đường sâu 50m ta luy dương theo bìa đỏ đã có. Thời gian thực hiện hợp đồng bắt đầu 18/12/2008 đến 18/4/2009.

Tại biên bản thanh lý hợp đồng ngày 16 tháng 5 năm 2010, hai bên xác định khối lượng đã thực hiện là 56m x 25m, bà Phạm Thị T đã trả cho ông Ngô Duy M một mảnh đất 20m ngang x 25m sâu. Số lượng còn lại sau 30 ngày ông Ngô Duy M phải súc ủi đúng quy cách và bàn giao cho bà T ngày 16/6/2010.

Theo quy định tại Điều 429, Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm tức 03 năm kể từ ngày 16/6/2010. Ngày 17/01/2019, ông Ngô Duy M nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố H là vượt quá 03 năm tính từ ngày 16/6/2010.

Ngày 08 tháng 6 năm 2020 bà Phạm Thị T có đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện vì cho rằng ông Ngô Duy M khởi kiện yêu cầu gia đình bà thực hiện theo hợp đồng khi không còn thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.

Ngày 22/10/2020 Tòa án nhân dân thành phố H căn cứ vào các Điều 48, 184, 217, 218, 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định.

Ngày 29/10/2020 ông Ngô Duy M kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H vì cho rằng sau khi ông Mai Mạnh T chết (năm 2009) thì bà T đã nhiều lần hứa sẽ sang tên cho ông 32m đất còn lại nhưng không đưa ra được căn cứ để chứng minh nên kháng cáo của ông M là không có cơ sở để chấp nhận.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Giang là phù hợp với nhận định của Hội đồng phúc thẩm nên được chấp nhận.

Do kháng cáo của ông Ngô Duy M không được chấp nhận, ông M phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 BLTTDS và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 314 của Bộ luật Tố tụng dân sự,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 40/2020/QĐST-DSTC ngày 22 tháng 10 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố H về việc “Tranh chấp hợp đồng khoán việc”.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Duy M phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số BB/2018/0002338 ngày 30/10/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ