- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 2 Luật Người cao tuổi
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-VDS | Krông Pắc, ngày 28 tháng 02 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Quang Vinh.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Loan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2019 , tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/2018/TLST-VDS, ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc: Yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 02/2019/QĐST-VDS, ngày 20 tháng 02 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Vũ Đức U, sinh năm 1951 (Có mặt).
Bà Vũ Thị L, sinh năm 1950 (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Người bị yêu cầu: Chị Vũ Thị Lan H, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự và bản tự khai, bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U trình bày:
Bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U là bố mẹ đẻ của chị Trần Thị Lan H, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Khi còn nhỏ, cháu bị bệnh viêm màng não và bị thần kinh, cháu hoàn toàn mất khả năng tư duy, trí tuệ, mọi sinh hoạt cá nhân đều phải có người phục vụ. Sau đó, gia đình đã đưa chị Vũ Thị Lan H đi khám tại Bệnh viện tâm thần tỉnh Đắk Lắk và được chuẩn đoán: Rối loạn tâm thần/ Down; Không có khả năng lao động tự kiếm sống. Năm 2013, Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk đã cấp Giấy xác nhận khuyết tật số hiệu 0500/6665424517/0001 đối với cháu Vũ Thị Lan H; Dạng khuyết tật:
1 Vận động, nghe nói, thần kinh; Mức độ khuyết tật: Đặc biệt nặng. Hiện nay, cháu Vũ Thị Lan H được hưởng bảo trợ xã hội hàng tháng.
Do tình trạng của chị Vũ Thị Lan H không có khả năng tự chăm sóc bản thân và thực hiện các giao dịch dân sự. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích cho chị Vũ Thị Lan H nên bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U đề nghị Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị Lan H mất năng lực hành vi dân sự.
Tại phiên họp, bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U vẫn giữ nguyên yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk sau khi đánh giá chứng cứ, tài liệu do đương sự xuất trình, trên cơ sở kết luận giám định của Trung tâm pháp y tâm thần tỉnh Đắk Lắk đối với chị Vũ Thị Lan H. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện K Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk chấp nhận Đơn yêu cầu của bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U về việc tuyên bố chị Vũ Thị Lan H mất năng lực hành vi dân sự. Về việc cử người giám hộ: Do bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U không có tranh chấp gì về việc cử người giám hộ và người giám sát việc giám hộ theo quy định của pháp luật nên Tòa án không phải chỉ định mà để ông bà tự thực hiện việc cử, đăng ký giám hộ, giám sát theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật hộ tịch.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp; Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Chị Vũ Thị Lan H là người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú tại xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự: Việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
Xét yêu cầu của bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U về việc yêu cầu tuyên bố chị Vũ Thị Lan H mất năng lực hành vi dân sự: Ngày 10/12/2018, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk nhận được đơn yêu cầu của ông Vũ Đức U, bà Vũ Thị L, về việc yêu cầu tuyên bố chị Vũ Thị Lan H Mất năng lực hành vi dân sự. Để có căn cứ giải quyết đơn của ông U, bà L theo quy định của pháp luật, ngày 08/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 01/2019/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên để thực hiện giám định: Chị Vũ
2 Thị Lan H có bị mất năng lực hành vi dân sự hay không? Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 10/KLGĐTC, ngày 24/01/2019 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nguyên đã kết luận:
“Đương sự: Vũ Thị Lan H. Giới tính: Nữ. Sinh ngày: 19/01/1975.
Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Kết luận về y học: Hiện tại đương sự bị bệnh: Chậm phát triển ở mức độ nặng (F72-ICD10).
Kết luận về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
Hiện tại đương sự: Mất khả năng nhận thức và mất khả năng điều khiển hành vi.”
Tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự quy định:
“1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Do đó, việc bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U là bố mẹ của chị Vũ Thị Lan H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Vũ Thị Lan H mất năng lực hành vi dân sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự, nên được chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Về tiền tạm ứng chi phí trưng cầu giám định: Ngày 07/01/2019, ông Vũ Đức U đã nộp 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng số 01/TB-TA, ngày 07/01/2019.
Quá trình giám định, tiền phí và bồi dưỡng giám định đối tượng Vũ Thị Lan H: 4.840.000đ (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn); Tiền thuê xe: 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Tổng cộng là 7.840.000đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hoàn trả lại cho ông Vũ Đức U, bà Vũ Thị L số tiền tạm ứng chi phí giám định còn lại là 160.000đ (Theo biên bản giao nhận ngày 19/02/2019).
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Do bà Vũ Thị L và ông Vũ Đức U đã trên 60 tuổi và có đơn xin miễn tiền tiềm lệ phí Tòa án. Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016: Bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U được miễn nộp tiền lệ phí tòa án giải quyết việc dân sự.
3
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39; Điều 149; các Điều 361, 371, 372, 376, và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 22 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U.
Tuyên bố chị Vũ Thị Lan H. Giới tính: Nữ. Sinh ngày 19/01/1975; Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, mất năng lực hành vi dân sự.
2. Về chi phí trưng cầu giám định: Ông Vũ Đức U, bà Vũ Thị L phải chịu 7.840.000đ (Bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng) phí trưng cầu giám định được khấu trừ vào 8.000.000đ (Tám triệu đồng) tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo Biên bản giao nhận ngày 07/01/2019. Hoàn trả lại cho ông Vũ Đức U, bà Vũ Thị L 160.000đ (Một trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo Biên bản giao nhận ngày 19/02/2019.
3. Về lệ phí: Bà Vũ Thị L, ông Vũ Đức U được miễn nộp tiền lệ phí tòa án giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Các đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKS huyện Krông Pắc; - THADS huyện Krông Pắc; - UBND xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ,VT. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trương Quang Vinh 4 |