- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Phạm Thị T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T Tuyên bố anh Phạm Văn B - Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977 Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-VDS | Trực Ninh, ngày 18 tháng 06 năm 2019. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC MINH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Chu Thái Hà. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy – Thư ký TAND huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thuần - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 01/2019/TLST-VDS ngày 25 tháng 01 năm 2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2019/QĐST-VDS ngày 10 tháng 06 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phạm Thị T – sinh năm: 1952.
Địa chỉ: xóm 4, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị D - Sinh năm: 1993.
Địa chỉ: xóm 1, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu, tại bản tự khai và tại phiên họp bà Phạm Thị T trình bày:
Bà là mẹ đẻ của anh Phạm Văn B. Anh B sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977. Ngày 08 tháng 5 năm 1991, anh B trốn nhà theo đoàn đi xây dựng kinh tế mới của xã T vào xã Phước Cát, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Khi vào tới nơi, anh B được gia đình ông L là hàng xóm của gia đình bà ở xã T cưu mang một thời gian và có viết thư về nói bà vào đón anh B về. Tháng 8 năm 1991 bà vào thì được ông L cho biết anh B chỉ ở nhà ông L khoảng 2 tháng sau đó đã theo những người thuộc xã Hải Hòa, huyện Hải Hậu đi nơi khác. Bà có ở lại tìm anh B khoảng gần một tháng nhưng không thấy.Từ đó đến nay anh B không về bà và mọi người trong gia đình cũng đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh B, nay cũng không biết anh B ở đâu. Để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình theo quy định của pháp luật nên bà có yêu cầu tuyên bố anh B đã chết.
Tại bản tự khai và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phạm Thị D trình bày:
Trong thời gian sinh sống tại gia đình chị có được nghe người trong gia đình nói là năm 1991 anh Phạm Văn B là anh trai của chị đã trốn gia đình đi theo đoàn kinh tế mới của xã T vào xã Phước Cát, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Nay bà T là mẹ chị muốn chuyển sử dụng đất cho chị nên đã có đề nghị Tòa án tuyên bố anh B đã chết. Chị xác định có liên quan tới yêu cầu của bà T.
Đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp có quan điểm đề nghị:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, xác minh sự vắng mặt của anh B tại địa phương, thông báo tìm kiếm anh B trên các phương tiện thông tin đại chúng đảm bảo các quy định của pháp luật; Việc Tòa án quyết định mở phiên họp vào ngày 18 tháng 6 năm 2019 đúng thời hạn theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự đúng quy định tại Điều 70 BLTTDS.
Căn cứ các Điều 71; 72 BLDS, Điều 391; 392; 393 BLTTDS: Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc yêu cầu tuyên bố anh Phạm Văn B đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện VKSND huyện Trực Ninh tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh nhận định:
Anh Phạm Văn B sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977 là con đẻ của bà Phạm Thị T và ông Phạm Văn T. Ngày 08 tháng 5 năm 1991, anh B đã theo đoàn đi xây dựng kinh tế mới của xã T vào xã Phước Cát, huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng. Khi biết tin anh B, tháng 8 năm 1991 bà T có vào tìm khoảng gần một tháng nhưng không thấy. Từ đó đến nay anh B không về bà T và mọi người trong gia đình cũng đã tìm kiếm khắp nơi nhưng vẫn không có tin tức gì của anh B, nay cũng không biết anh B ở đâu. Để đảm bảo các quyền và nghĩa vụ dân sự của mình theo quy định của pháp luật nên bà T có yêu cầu tuyên bố anh B đã chết.
Sau khi thụ lý đơn yêu cầu của bà T, TAND huyện Trực Ninh đã ra quyết định thông báo tìm anh Phạm Văn B trên các phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể là Đài tiếng nói Việt Nam, báo Công Lý, Cổng thông tin điện tử của TAND tỉnh Nam Định. Đến nay thời hạn thông báo theo quy định của pháp luật đã hết nhưng vẫn không có tin tức gì của anh Phạm Văn B.
Chính quyền địa phương cũng cho biết anh B đã đi biệt tích khỏi địa phương từ năm 1991, địa phương cũng không biết hiện nay anh B ở đâu.
Do vậy việc bà Phạm Thị T có đề nghị tuyên bố anh Phạm Văn B đã chết là phù hợp với các quy định tại các Điều 71; 72; 146; BLDS nên chấp nhận.
Về thời điểm xác định Phạm Văn B biệt tích: Theo bà T trình bày và qua xác minh tại chính quyền địa phương thì anh B đã theo đoàn đi xây dựng kinh tế mới của xã T ngày 08 tháng 5 năm 1991. Tuy nhiên, cũng theo bà T trình bày thì khi vào tới nơi anh B được gia đình ông L là hàng xóm của gia đình bà ở xã T cưu mang một thời gian và có viết thư về nói bà vào đón anh B về. Tháng 8 năm 1991 bà vào thì được ông L cho biết anh B chỉ ở nhà ông L khoảng 2 tháng sau đó đã đi nơi khác. Bà có ở lại tìm anh B khoảng gần một tháng nhưng không thấy. Như vậy, căn cứ Điều 68 BLDS thời điểm anh Phạm Văn B biệt tích được xác định là ngày 01/9/1991.
Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T phải nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 68; 71; 72; 146 BLDS; Điều 391; 392; 393 BLTTDS.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị T Tuyên bố anh Phạm Văn B - Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1977 Nơi ĐKHKTT: xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Nơi cư trú cuối cùng: xóm 4, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Đã chết kể từ ngày 01 tháng 9 năm 1996.
2. Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của anh Phạm Văn B được thực hiện theo quy định tại Điều 72 BLDS.
3. Lệ phí: Bà Phạm Thị T phải nộp 300.000đ (được trừ vào khoản đã nộp tạm ứng lệ phí 300.000đ nộp tại biên lai thu số 04913 ngày 25 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Bà T đã nộp xong lệ phí dân sự sơ thẩm).
Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo, VKSND huyện Trực Ninh có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự;
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo các Điều 6, Điều7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Trực Ninh; - Các Đương sự; - UBND xã T, huyện T; - Lưu HS, VP; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký và đóng dấu) Chu Thái Hà |