- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông H K L về việc yêu cầu xác định cha cho con.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƯƠNG Số: 01/2019/QĐST-VDS | Thuận An, ngày 16 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc yêu cầu xác định cha cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Cảnh Khang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 1051/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2019 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 06/2019/QĐST-NHGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2019.
Người yêu cầu: Ông H K L, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 54, Tổ 13, Khu 3, khu phố Th, phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương, có mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Theo đơn yêu cầu, biên bản tự khai và tại phiên họp người yêu cầu ông H K L trình bày:
Ông L và bà H Th O tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2012, nhưng không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Qúa trình chung sống, ông bà có một người con chung tên H Th K G, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013. Sau khi sinh con được khoảng 6 tháng thì bà O bỏ nhà đi đến nay không về. Ông L không biết quê quán của bà O ở đâu vì trong thời gian chung sống với nhau bà O không dẫn ông về nhà của bà O và đến nay ông cũng không biết bà O đang sinh sống ở đâu.
Do ông L, bà O chưa đăng ký kết hôn nên ông chưa làm được giấy khai sinh cho con.
Để có căn cứ xác định cháu G là con gái của ông, ông L đã đi làm thủ tục xét nghiệm ADN và kết luận của Hội đồng khoa học Công ty TNHH MTV TM và DV DNA TESTINGS xác định ông L và cháu G có cùng huyết thống: cha – con với độ tin cậy 99,9999%.
Vì vậy, ông L yêu cầu Tòa án xác định ông và cháu G là cha con.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết việc dân sự Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Người yêu cầu; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung việc dân sự: Căn cứ vào hồ sơ việc dân sự, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên họp, nhận thấy yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ nên đề nghị Tòa án chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thị xã Thuận An nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật: Ông H K L, sinh năm 1975; địa chỉ: Số 54, Tổ 13, Khu 3, khu phố Th, phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương yêu cầu Tòa án xác định ông và cháu H Th K G, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013 ở cùng địa chỉ của ông là cha con. Xét, đây là việc dân sự về việc Yêu cầu xác định cha cho con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Khoản 10 Điều 29; Điểm b Khoản 2 Điều 35; Điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo lời trình bày của ông H K L cho rằng ông và bà H Th O chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2012, nhưng không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn. Qúa trình chung sống, ông L, bà O có 01 người con chung tên H Th K G, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013. Sau khi sinh con được khoảng 6 tháng, bà O bỏ nhà đi đến nay chưa về. Ông L không biết bà O sinh sống hay quê quán ở đâu. Để làm thủ tục đăng ký khai sinh và nhập học cho con, ông L yêu cầu Tòa án xác định ông và cháu G là cha con.
Xét thấy, tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 04 tháng 7 năm 2019 của Công ty TNHH MTV TM và DV DNA TESTINGS xác định ông L và cháu G có cùng huyết thống: cha – con với độ tin cậy 99,9999%. Tại Bản kết luận giám định ngày 09 tháng 8 năm 2019 của Viện sinh học phân tử LOCI kết luận: Ông H K L, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1975 và cháu H Th K G, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013 có quan hệ huyết thống cha – con, với tần suất 99,9999654% nên có căn cứ xác định yêu cầu của ông Long là phù hợp pháp luật.
Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên, Tòa án có căn cứ chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu về việc yêu cầu xác định cha cho con.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của người yêu cầu là có căn cứ nên Tòa án chấp nhận.
Về chi phí giám định: Ông H K L đã nộp đủ;
Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông Huỳnh Kim Long được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 10 Điều 29; Điểm b Khoản 2 Điều 35; Điểm t Khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 370, Điều 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 89 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông H K L về việc yêu cầu xác định cha cho con.
Tuyên bố ông H K L, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1975; địa chỉ: Số 54, Tổ 13, Khu 3, khu phố Th, phường An Thạnh, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương là cha ruột của cháu H Th K G, sinh ngày 22 tháng 8 năm 2013.
2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Ông H K L được miễn nộp lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định này được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận : - TAND tỉnh Bình Dương; - Chánh án (để báo cáo); - VKS thị xã Thuận An; - Đương sự; - Lưu HS. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Bạch Tuyết |