vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-VDS — Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

TAND huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 29/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Nguyễn Văn T đối với anh Lê Văn T – sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông.

Tuyên bố anh Lê Văn T mất tích. Trường hợp khi người bị tuyên bố mất tích (anh Lê Văn T) trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Nguyễn Văn T đối với anh Lê Văn T – sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐĂK MIL
TỈNH ĐĂK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐST-VDS
Ngày 29/5/2019

QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM

GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL

Với thành phần phiên họp gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: ông Nguyễn Thế Hạnh

- Thư ký phiên họp: bà Nguyễn Thị Thùy Dung – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên họp: Lê Thu Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên họp giải quyết việc Dân sự: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích” theo hồ sơ thụ lý số:143/2018/TLST-VDS, ngày 19 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định mở phiên họp số 02/2019/QĐMPH-ST, ngày 21/5/2019 gồm những người tham gia tố tụng sau:

*/ Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn T– sinh năm: 1946 (có mặt)

Trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông.

*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Văn T– sinh năm: 1975 (vắng mặt)

Nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Theo đơn yêu cầu và các lời trình bày của người yêu cầu, ông Nguyễn Văn T thì: năm 2008 con gái ông là chị Nguyễn Thanh H kết hôn với anh Lê Văn T. Sau khi kết hôn, chị H và anh T được ông làm cho một căn nhà nhỏ bên cạnh nhà của ông để ở. Trong quá trình chung sống chị H và anh T có 01 con chung là cháu Lê Thị Hoài S, sinh ngày 11/02/2010. Năm 2011, do mâu thuẫn vợ chồng, anh T bỏ nhà đi biệt tích từ đó cho đến nay không có tin tức gì. Năm 2013 con gái ông là chị Nguyễn Thanh H bị bệnh và chết. Cháu Lê Thị Hoài S ở với ông từ đó cho đến nay. Khi con gái ông kết hôn với anh Lê Văn T, ông không có thông tin gì về nhân thân lai lịch của anh T, chỉ biết anh T có quê ở tỉnh Bình Định. Khi tổ chức hôn lễ cũng chỉ tổ chức bên nhà gái, không có họ hàng bên nhà anh T. Vì vậy, khi anh T bỏ đi biệt tích, ông không có bất cứ mối quan hệ nào để tìm kiếm. Vào tháng 5/2018, ông đã đăng tin trên Đài tiếng nói Việt Nam và nhắn tin trên báo Công lý để tìm kiếm anh T nhưng không có kết quả. Hiện nay ông và vợ đã già, sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do đó, ông làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Lê Văn T mất tích để làm các thủ tục cho cháu Lê Thị Hoài S được hưởng trợ cấp xã hội theo quy định của pháp luật.

TAND huyện Đắk Mil tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú cuối cùng của anh Lê Văn Tthì anh T có sinh sống tại xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông nhưng không có đăng ký hộ khẩu thường trú.

Tại trích lục kết hôn của chị Nguyễn Thanh H và anh Lê Văn T có ghi nơi cư trú của anh Lê Văn T là ở Xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông.

Tại Biên bản xác minh ngày 17/5/2019 của TAND huyện Đắk Mil với Công an, xã N, huyện Đ , tỉnh Đắk Nông xác định anh Lê Văn T, sinh ngày 30/12/1975 có đăng ký HKTT tại: thôn 17, xã N, huyện Đ (đăng ký năm 2008), tuy nhiên anh T không có mặt tại địa phương từ nhiều năm nay, khi đi không khai báo với Công an xã việc tạm trú, tạm vắng nên Công an xã không có thông tin gì của anh T. Trong hồ sơ hộ khẩu chỉ có một mình anh T, không có ai khác nên không xác định được mối quan hệ của anh T tại địa phương.

Tại phiên họp, ông Nguyễn Văn T vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên họp phát biểu ý kiến về việc giải quyết đơn yêu cầu của ông Nguyễn Văn T:

- Về thụ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của BLTTDS kể từ khi thụ lý việc dân sự cho đến trước thời điểm mở phiên họp. Tại phiên họp, Thẩm phán và thư ký phiên họp tuân thủ đúng theo quy định của BLTTDS, người tham gia phiên họp đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Áp dụng Điều 389 của BLTTDS và Điều 68 của BLDS đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T, tuyên bố anh Lê Văn T mất tích; về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.500.000 đồng tiền chi phí đăng thông báo trên đài tiếng nói Việt nam và đăng trên báo Công lý; Về lệ phí: Căn cứ điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Ông Nguyễn Văn T được miễn tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện Kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đăk Mil nhận định:

- Về thẩm quyền giải quyết của Toà án: Người bị yêu cầu anh Lê Văn T có nơi cư trú cuối cùng tại: thôn Đ, xã Đ, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông nên TAND huyện Đắk Mil thụ lý giải quyết là đúng quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của BLTTDS, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông.

- Về quyền yêu cầu: Anh Lê Văn T bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2011 đến nay không có tin tức gì, ông Nguyễn Văn T là bố vợ đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm đối với anh T nhưng không có tin tức. Như vậy ông Nguyễn Văn T yêu cầu tuyên bố một người mất tích là đảm bảo theo quy định tại Điều 68 của BLDS và Điều 387 của BLTTDS.

- Về nội dung:

Anh Lê Văn T và chị Nguyễn Thanh H kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông; Trong thời gian chung sống anh chị có 01 con chung là cháu Lê Thị Hoài S, sinh ngày 11/02/2010. Năm 2011 anh T bỏ đi biệt tích, năm 2013 chị Nguyễn Thanh H chết. Cháu Lê Thị Hoài S ở với ông bà ngoại là Nguyễn Văn T và bà Hồ Thị N. Căn cứ Điều 52 của BLDS năm 2015, xác định ông T, bà N là người giám hộ đương nhiên của cháu Lê Thị Hoài S, do đó, việc ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích đối với anh Lê Văn T, là phù hợp quy định pháp luật. Kể từ thời gian anh T bỏ đi khỏi nơi cư trú cuối cùng, ông Nguyễn Văn T đã áp dung các biện pháp thông báo tìm kiếm anh Lê Văn T nhưng không có kết quả, đến nay đã hơn 02 năm mà không có tin tức xác thực về việc anh Lê Văn T còn sống hay đã chết.

Ngày 04/01/2019 TAND huyện Đắk Mil đã quyết định thông báo tìm kiếm một người bị tuyên bố mất tích đối với anh Lê Văn T và được thông báo trên ba số báo Công lý liên tiếp 04,05,06 ra các ngày 11,16,18/01/2019 và thông tin trên đài Tiếng nói Việt Nam vào các ngày 09,10,11/01/2019.

Quá trình giải quyết việc dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại nơi cư trú cuối cùng thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn thông báo và cho đến trước khi Tòa án mở phiên họp vẫn không có tin tức tin tức xác thực về việc anh Lê Văn T còn sống hay đã chết.

TAND huyện Đắk Mil đã xác minh tại địa phương nơi đăng ký HKTT cũng như cư trú cuối cùng của anh Lê Văn T, anh Lê Văn T không có mặt tại địa phương từ nhiều năm nay. Quá trình sinh sống tại địa phương không xác định được nhân thân lai lịch cũng như quan hệ họ hàng của anh Lê Văn T.

Vì vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn T tuyên bố anh Lê Văn T mất tích là phù hợp . Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Về chi phí đăng tin trên báo Công lý và thông tin trên sóng đài TNVN: người yêu cầu, ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.500.000đ chi phí về việc đăng tin trên báo Công lý và Đài tiếng nói Việt Nam đã nộp trong quá trình giải quyết vụ việc.

Về lệ phí việc DSST: Căn cứ theo điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội thì ông Nguyễn Văn T được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; khoản 2, khoản 3 Điều 367; Điều 372; Điều 388 và Điều 389 của BLTTDS. Áp dụng: khoản 1 Điều 68 của BLDS và điểm đ khoản 1, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố mất tích của ông Nguyễn Văn T đối với anh Lê Văn T – sinh năm 1975, nơi cư trú cuối cùng: thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Đắk Nông.

1. Tuyên bố anh Lê Văn T mất tích.

2. Trường hợp khi người bị tuyên bố mất tích (anh Lê Văn T) trở về hoặc có tin tức xác thực là người đó còn sống thì người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

3. Về chi phí đăng tin trên báo Công lý và thông tin trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.500.000 chi phí cho việc nhắn tin và thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã nộp trong quá trình giải quyết vụ việc.

4. Về lệ phí: ông Nguyễn Văn T được miễn tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

5. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ