vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-HNGĐ — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của anh Tạ Văn H về việc yêu cầu Tòa án xác định ông Trương Văn Th, sinh năm 1939; địa chỉ: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị (đã chết) là cha đẻ của anh Tạ Văn H.

Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tạ Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/0000490 ngày 26/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Anh Tạ Văn H yêu cầu Tòa án xác định ông Trương Văn Th là cha đẻ."
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của anh Tạ Văn H về việc yêu cầu Tòa án xác định ông Trương Văn Th, sinh năm 1939; địa chỉ: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị (đã chết) là cha đẻ của anh Tạ Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu xác định cha; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIO LINH
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:01/2019/QĐST-HNGĐGio Linh, ngày 29 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v Xác định cha cho con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh.

Thư ký phiên họp: Ông Lê Thanh Tuấn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên họp: Ông Hoàng Văn Vì - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2019, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 94/2018/TLST - HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2019 /QĐST-HNGĐ ngày 22/01/2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Tạ Văn H, sinh năm 1980;

Trú tại: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Ông Trương Văn Th (đã chết);

Địa chỉ: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị.

- Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Văn Th:

+ Bà Bùi Thị L, sinh năm 1954 là vợ ông Trương Văn Th;

+ Anh Trương Văn H, sinh năm 1979;

+ Anh Trương Văn C, sinh năm 1983;

+ Trương Văn Th, sinh năm 1989;

+ Trương Thị H, sinh năm 1993;

Đều trú tại: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị.

+ Chị Trương Thị B, sinh năm 1986;

+ Trương Thị H, sinh năm 1991

Trú tại: khu dân cư M, thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị.

Các anh chị Trương Văn H, Trương Văn C, Trương Văn Th, Trương Thị H, Trương Thị B, Trương Thị H là con ông Trương Văn Th.

Đại diện theo ủy quyền của Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là: Anh Trương Văn H (văn bản ủy quyền ngày 17/12/2018), có mặt.

2. Ông Tạ Văn T, sinh năm 1938;

Trú tại: thôn L, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Người làm chứng: Bà Bùi Thị T, sinh năm 1947;

Trú tại: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình về việc “Xác định cha cho con” đề ngày 20/12/2018 và tại phiên họp, người yêu cầu anh Tạ Văn H trình bày:

Bà Bùi Thị T (mẹ của anh Tạ Văn H) có chung sống với ông Trương Văn Th, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên hai ông bà ly tán. Sau đó, bà T có quen biết, chung sống với ông Tạ Văn T. Hòa bình lập lại bà T gặp lại ông Trương Văn Th và có qua lại với nhau và sinh ra anh Tạ Văn H. Lúc này ông Trương Văn Th đã lấy bà Bùi Thị L.Vì điều kiện để thuận tiện cho việc khai sinh và các thủ tục, giấy tờ liên quan nên bà Bùi Thị T và ông Tạ Văn T đã thỏa thuận anh H mang họ của ông T là họ Tạ. Ông Trương Văn Th biết anh Tạ Văn H là con đẻ của mình nhưng chưa kịp làm thủ tục nhận con thì ông Th chết vào năm 1994. Ngày 30/10/2018, bà Bùi Thị L và các anh chị Trương Văn H, Trương Văn C, Trương Văn Th, Trương Thị H, Trương Thị B, Trương Thị H là vợ và các con của ông Trương Văn Th đã thừa nhận anh Tạ Văn H là con của ông Trương Văn Th và bà Bùi Thị T. Ngày 15/11/2018, ông Tạ Văn T đã thừa nhận anh Tạ Văn H không phải là con đẻ của mình và có đơn xin từ chối con.

Vì vậy, anh Tạ Văn H đã làm đơn yêu cầu Tòa án xác định ông Trương Văn Th là cha đẻ của mình và để làm thủ tục thay đổi họ của anh theo họ của cha đẻ là Trương Văn Th.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thụ lý, tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu theo trình tự và thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự quy định.

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Anh Tạ Văn H có đơn yêu cầu xác định ông Trương Văn Th là cha đẻ của mình. Căn cứ khoản 10 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ “Xác định cha cho con”. Ông Trương Văn Th chết năm 1994 nên căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình yêu cầu xác định cha cho con của anh Hòa thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về nội dung: Xét yêu cầu của anh H, thấy rằng: Bà Bùi Thị T (mẹ của anh Tạ Văn H) có chung sống với ông Trương Văn Th, nhưng do hoàn cảnh chiến tranh nên hai ông bà ly tán. Sau đó, bà T có quen biết, chung sống với ông Tạ Văn T. Hòa bình lập lại bà T gặp lại ông Trương Văn Th và có qua lại với nhau và sinh ra anh Tạ Văn H. Tuy nhiên, do điều kiện để thuận tiện cho việc khai sinh và các thủ tục, giấy tờ liên quan nên bà Bùi Thị T và ông Tạ Văn T đã thỏa thuận anh H theo họ của ông T là họ Tạ. Mặc dù đã biết anh Tạ Văn H là con đẻ của mình nhưng chưa kịp làm thủ tục nhận con thì ông Trương Văn Th đã chết.

Ngày 30/10/2018, bà Bùi Thị L (vợ chính thức của ông Trương Văn Th) cùng 06 người con của ông Th đã xác lập văn bản nhận anh H là con đẻ của ông Trương Văn Th.

Ngày 15/11/2018, ông Tạ Văn T đã có đơn xin từ chối con và văn bản trình bày ý kiến, ông Tạ Văn T đều thừa nhận anh H không phải là con đẻ của mình mà con của ông Trương Văn Th.

Bà Bùi Thị T mẹ đẻ của anh H thừa nhận anh H là con đẻ của ông Trương Văn Th, và việc khai sinh cho anh H theo họ ông Tạ Văn T là để tiện cho việc khai sinh và chăm sóc anh H nên bà và ông T đã thống nhất khai sinh anh H theo họ ông Tạ Văn T.

Ngày 15/01/2019, Tòa án nhân dân huyện Gio Linh đã tiến hành xác minh đối với ông Tạ Văn T và bà Bùi Thị T đều xác định anh H không phải là con đẻ của ông Tạ Văn T mà con của ông Trương Văn Th và bà Bùi Thị T (có xác nhận của Trưởng Công an xã G).

Tại phiên họp anh Trương Văn H và bà Bùi Thị T trình bày ý kiến của mình xác nhận anh H là con đẻ của ông Trương Văn Th, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu nhận cha của anh H để hoàn thành tâm nguyện của gia đình.

Trong giấy khai sinh của anh H mang họ Tạ, anh H khẳng định: “Giấy khai sinh của anh ở phần họ tên cha xác định là Tạ Văn T là vì trước đây để thuận tiện cho việc khai sinh và chăm sóc anh nên ông Tạ Văn T và bà Bùi Thị T đã thừa nhận anh là con của ông T thống nhất khai sinh anh theo họ ông Tạ Văn T”. Nay ông T đã có văn bản từ chối nhận con. Xét thấy việc từ chối con của ông T là hoàn toàn tự nguyện; Yêu cầu xác nhận cha của anh Tạ Văn H khách quan phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà anh Tạ Văn H cung cấp, đó là: Biên bản họp gia đình có chữ ký của vợ chính thức của ông Trương Văn Th và 06 người con của ông Th (có xác nhận của Trưởng thôn và chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã G); đơn xin thay đổi họ cho con đẻ của bà T, đơn xin từ chối con của ông Tạ Văn T; giấy ủy quyền (có chứng thực); bản sao chứng minh nhân dân và bản sao sổ hộ khẩu gia đình anh H (có chứng thực); bản sao trích lục khai tử của ông Trương Văn Th; đơn xin xác nhận thành viên trong gia đình.

Tại phiên họp Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh có quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp: Hội đồng giải quyết việc dân sự, Thư ký phiên họp đã tuân theo đúng quy định tại Điều 369 BLTTDS về thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Trên cơ sở nội dung yêu cầu của anh H, văn bản trình bày ý kiến của những người liên quan và người làm chứng có đủ căn cứ xác định ông Trương Văn Th là cha đẻ của anh Tạ Văn H. Vì các lẽ trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gio Linh áp dụng các điều 29, 370, 371, 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 90, 101,102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu của anh Tạ Văn H, công nhận ông Trương Văn Th là cha đẻ của anh Tạ Văn H./.

Về lệ phí: Anh Tạ Văn H phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 29; 361; 370; 371; 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 90; 101; 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 30 Luật hộ tịch; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của anh Tạ Văn H về việc yêu cầu Tòa án xác định ông Trương Văn Th, sinh năm 1939; địa chỉ: thôn M, xã G, huyện GL, tỉnh Quảng Trị (đã chết) là cha đẻ của anh Tạ Văn H.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Tạ Văn H phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí việc dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí việc dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2014/0000490 ngày 26/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gio Linh. Anh Hòa đã nộp đủ lệ phí việc dân sự sơ thẩm.

3. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị; anh Tạ Văn H và anh Trương Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Ông Tạ Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được Quyết định, hoặc được niêm yết. Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ