- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị H và ông Hán Văn Q"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự + Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm 1967 Nghề nghiệp: Buôn bán Trú tại: Thôn 7, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-HNGĐ | Đoan Hùng, ngày 11 tháng 12 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH CÔNG NHẬN
SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào biên bản hòa giải thành ngày 03 tháng 12 năm 2019 về việc các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án dân sự thụ lý số 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019
XÉT THẤY:
Các thoả thuận của các đương sự đã được ghi trong biên bản hoà giải thành về việc giải quyết toàn bộ vụ án là tự nguyện; nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1.Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự + Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H – Sinh năm 1967 Nghề nghiệp: Buôn bán Trú tại: Thôn 7, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. + Bị đơn: Ông Hán Văn Q – Sinh năm 1964 Nghề nghiệp: Buôn bán Trú tại: Thôn 7, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. + Người có quyền lợi quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hán Văn D – sinh năm 1992 Nghề nghiệp: Lao động tự do Trú tại: Thôn 7, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
+ Về chia tài sản: Bà Nguyễn Thị H và ông Hán Văn Q đã tự nguyện thỏa thuận việc phân chia tài sản và đề nghị Tòa án ghi nhận như sau:
- Bà Nguyễn Thị H được quyền sở hữu 01 ngôi nhà xây 2 tầng có diện tích xây dựng là 160m2 (nằm trên phần đất diện tích 80m2 tại thửa đất số 565, tờ bản đồ số 02 tại thôn 7, xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 575873 mang tên anh Hán Văn D được UBND huyện Đ cấp ngày 25/6/2010) cùng toàn bộ các tài sản trong nhà.
- Ông Hán Văn Q được quyền sử dụng phần đất diện tích 77,1m2 tại thửa đất số 564, tờ bản đồ số 02 tại thôn 7 xã S, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BV 440391 mang tên ông Hán Văn Q và bà Nguyễn Thị H được UBND huyện Đ cấp ngày 05/8/2014, có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đất ao của ông Trần Mạnh H (Ông H nhận chuyển nhượng của bà Dậu) có chiều dài 4m; Phía Tây giáp đường Quốc lộ 2 có chiều dài là 4m; Phía Nam giáp đất ở của anh Hán Văn D (Anh D nhận chuyển nhượng của ông bà Quỳnh H) có chiều dài 19,43m; Phía Bắc giáp đất ở của ông Trần Mạnh H (Ông H nhận chuyển nhượng của ông K) có chiều dài 19,12m. Ông Q được sở hữu 01 nhà tạm trên đất.
Ông Hán Văn Q có nghĩa vụ thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà Nguyễn Thị H là 200.000.000đ (Hai trăm triệu đồng). Thỏa thuận đến ngày 15/12/2019 ông Q thanh toán số tiền trên cho bà H.
Quá thời hạn trên mà ông Q không thanh toán, kể từ ngày bà H có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng ông Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bà Hòa, ông Quỳnh có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
+ Về án phí: Bà Nguyễn Thị H nộp cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.0000.000đ (Mười triệu đồng) theo biên lai số AA/2017/0003374 ngày 02/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Bà Nguyễn Thị H được hoàn lại 9.850.000đ ( Chín triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Đ; - Chi cục Thi hành án dân sự; - Lưu hồ sơ , VP. | THẨM PHÁN Nguyễn Mai Linh |