vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An Tuyên án 28/01/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu tuyên bố ông Thân Văn Q mất năng lực hành vi dân sự.

1 Tuyên bố ông Thân Văn Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An mất năng lực hành vi dân sự. 2 Giao dịch dân sự của ông Thân Văn Q là người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị L (vợ của ông Q) xác lập, thực hiện. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu tuyên bố ông Thân Văn Q mất năng lực hành vi dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Dân sự; Điều 135 Bộ luật Dân sự; Điều 136 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Số: 01/2019/QĐST-DS
Ngày: 28-01-2019

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT DÂN SỰ

V/v Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Đinh Tiền Phương

Thư ký phiên họp: Bà Kiều Thị Tùng Khương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Còn – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 756/2018/TLST-VDS ngày 25 tháng 12 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 07/2019/QĐST-QĐPH ngày 15 tháng 01 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng dân sự sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Long An. (vắng mặt)

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1 Ông Thân Văn T, sinh năm 1940; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp 2, xã B, huyện H, tỉnh Long An.

2.2 Bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1948; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An.

2.3 Cháu Thân Gia B, sinh năm 2008; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp của cháu B là bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột cháu B, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp B, xã T, huyện N, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Thân Văn Q, bà L và ông Q kết hôn năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố ông Thân Văn Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An mất năng lực hành vi dân sự, với lý do: Tháng 9 năm 2018, ông Thân Văn Q bị tai nạn giao thông không đi được, yếu liệt tứ chi, không nói được, không tự vệ sinh cá nhân, không nhận biết người thân, không nhận biết xung quanh, tiêu tiểu không tự chủ, an uống và vệ sinh cá nhân có người giúp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện việc bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Quyến yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Quyến mất năng lực hành vi dân sự, nhưng vẫn không có văn bản thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu của bà L.

Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thân Văn T trình bày: con trai ruột của ông là ông Thân Văn Q bị tai nạn giao thông, từ đó đến nay nằm một chỗ, không còn nhận thức được. Nay bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Q yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự thì ông không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát huyện Đức Hòa phát biểu ý kiến: Về các trình tự, thủ tục tố tụng của Tòa án, thẩm phán, thư ký và những người tham gia phiên họp đều tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu tuyên bố ông Thân Văn Q mất năng lực hành vi dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa nhận định:

Quyền yêu cầu và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Thân Văn Q theo Giấy chứng nhận kết hôn được Ủy ban nhân dân xã T cấp ngày 04/8/2008. Hiện tại, do ông Thân Văn Q bị tai nạn giao thông không đi được, yếu liệt tứ chi, không nói được, không tự vệ sinh cá nhân, không nhận biết người thân, không nhận biết xung quanh, tiêu tiểu không tự chủ, an uống và vệ sinh cá nhân có người giúp. Qua đó, xác định bà Nguyễn Thị L có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 376 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự cư trú tại ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An nên căn cứ vào khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố dân sự yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

[2] Người yêu cầu là bà Nguyễn Thị L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt của bà Lan, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên họp vắng mặt bà L. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị L là người đại diện hợp pháp cho cháu Thân Gia B có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt của họ, nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp theo quy định tại khoản 3 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu của bà Nguyễn Thị L:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, đơn yêu cầu đề ngày 05/12/2018 bà Nguyễn Thị L trình bày: Tháng 9 năm 2018, chồng bà là ông Thân Văn Q, sinh năm 1979 do bị tai nạn giao thông nên không thể đi lại và sinh hoạt bình thường được nữa. Từ đó, ông Q không nhận biết người thân, không nhận biết xung quanh, tiêu tiểu không tự chủ, an uống và vệ sinh cá nhân có người giúp. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Q mất năng lực hành vi dân sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự: “1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần…”

Căn cứ vào Kết luận Giám định Pháp y Tâm thần số 211/2018/KLGĐTC ngày 14 tháng 01 năm 2019 của Trung tâm Pháp y tâm thần Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Bộ Y tế đối với ông Thân Văn Quyến, xác định:

Về y học: Đương sự bị bệnh Hội chứng sau chấn động não, gia đoạn sa sút sau chấn động não, mức độ nặng (F07.2-ICD-10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Từ những phân tích tại [3.1], [3.2], [3.3], [3.3.1], [3.3.2] có đủ cơ sở khẳng định ông Thân Văn Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An là người mất năng lực hành vi dân sự, nên yêu cầu của bà Nguyễn Thị L là có cơ sở chấp nhận.

Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, nên cần được chấp nhận.

Về chi phí trưng cầu giám định là 4.840.000 đồng (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng): Bà Nguyễn Thị L tự nguyện chịu và đã nộp xong.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị L là người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự nên phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 22, Điều 47, Điều 53, Điều 134, Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu tuyên bố ông Thân Văn Q mất năng lực hành vi dân sự.

1.1 Tuyên bố ông Thân Văn Q, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp 2, xã T, huyện N, tỉnh Long An mất năng lực hành vi dân sự.

1.2 Giao dịch dân sự của ông Thân Văn Q là người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị L (vợ của ông Q) xác lập, thực hiện.

2. Về chi phí trưng cầu giám định là 4.840.000 đồng (Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng): Bà Nguyễn Thị L tự nguyện chịu và đã nộp xong.

3. Về lệ phí: Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp là 300.000 đồng do bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm bà L đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003938 ngày 25/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà Nguyễn Thị L đã đủ tiền lệ phí.

4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị:

5.1 Người yêu cầu là bà Nguyễn Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị L, bà Nguyễn Thị L là đại diện hợp pháp của cháu Thân Gia B vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thân Văn T có mặt có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

5.2 Viện kiểm sát có quyền kháng nghị này theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ