- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố là đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích L.
- Căn cứ chính? Điều 392 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-DS | Chư Prông, ngày 01 tháng 8 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người là đã chết
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PRÔNG, TỈNH GIA LAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đặng Chí Công
Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Bích Vân
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Nhất Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý 08/2019/TLST-DS ngày 07 tháng 01 năm 2019 về yêu cầu “Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 01/2019/QĐST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện C, tỉnh G (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Ngọc D, sinh năm 1970.
Nơi cư trú cuối cùng trước khi bị Tòa án tuyên bố mất tích: Thôn H, xã B, huyện C, tỉnh G.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự ngày 07/01/2019 và tại phiên họp, bà Nguyễn Thị Bích L trình bày: Bà với ông Võ Ngọc D chung sống với nhau như vợ, chồng từ năm 1992 đã có con chung và tài sản chung nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Ngày 09/10/2014 Tòa án nhân dân huyện Chư Prông đã ra Quyết định số 13/2014/QĐST-DS tuyên bố ông Võ Ngọc D mất tích. Việc ông Võ Ngọc D vắng mặt đã nhiều năm đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà trong các quan hệ giao dịch dân sự liên quan đến tài sản. Do vậy bà yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Võ Ngọc D là đã chết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Prông có ý kiến như sau: Quá trình giải quyết việc dân sự từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp Thẩm phán, Thư ký và đương sự đã thực hiện theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc bà L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Võ Ngọc D là đã chết là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Tòa án áp dụng các điều 71, 72 Bộ luật dân sự; Điều 391, khoản 1 và khoản 2 Điều 392, Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự: Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích L, tuyên bố ông Võ Ngọc D là đã chết kể từ ngày 17/10/2017 và giải quyết quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của ông Võ Ngọc D theo quy định pháp luật. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị buộc người yêu cầu phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Chư Prông nhận định:
. Bà Nguyễn Thị Bích L có đơn yêu cầu Toà án tuyên bố ông Võ Ngọc D là đã chết. Tòa án thụ lý đơn yêu cầu và xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo quy định tại khoản 4 Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Ngày 09/10/2014, Tòa án nhân dân huyện Chư Prông đã ra Quyết định số 13/2014/QĐST-DS tuyên bố ông Võ Ngọc D mất tích, Quyết định có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 17/10/2014. Quá trình giải quyết vụ việc theo đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích L, Tòa án đã ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với ông Võ Ngọc D. Thông báo được đăng tải trên báo hàng ngày của Trung ương trong ba số liên tiếp tại các ngày 20/3/2019, 22/3/2019 và 27/3/2019; phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 17 giờ 50 phút các ngày 16/3/2019, 17/3/2019 và 18/3/2019; ngoài ra còn được thông báo trên Cổng thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao. Như vậy, sau 03 năm kể từ ngày Quyết định tuyên bố ông Võ Ngọc D mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là ông D còn sống. Do vậy thì việc bà Nguyễn Thị Bích L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Võ Ngọc D là đã chết là có căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự nên được chấp nhận.
. Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Bích L phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 27; các điều 35, 39, 361, 391, 392 và 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 71, 72 của Bộ luật dân sự; Điều 37 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Bích L.
1. Tuyên bố ông Võ Ngọc D, sinh năm 1972, địa chỉ nơi cư trú cuối cùng trước khi bị tuyên bố mất tích: Thôn H, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai là đã chết vào ngày 17 tháng 10 năm 2017.
2. Quan hệ về hôn nhân và gia đình và các quan hệ nhân thân khác của ông Võ Ngọc D được giải quyết như đối với người đã chết.
3. Quan hệ tài sản của ông Võ Ngọc D được giải quyết như đối với người đã chết, tài sản của ông Võ Ngọc D được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
4. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Bích L phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0002257 ngày 07 tháng 01 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai. Bà Nguyễn Thị Bích L đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định. Nơi nhận:
| - VKSND huyện C; - Đương sự; - UBND xã B; - Hồ sơ vụ việc; | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đặng Chí Công |