- Tranh chấp gì? Các yêu cầu trong trường hợp chưa có điều kiện áp dụng — án hôn nhân và gia đình — "Sùng Mí Dính - Ma Thị Vàng"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Ma Thị V, sinh năm: 1976 nơi cư trú cuối cùng sau khi biệt tích: Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 37 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q TỈNH HÀ GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐST-DS | Q, ngày 22 tháng 4 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v YÊU CẦU TUYÊN BỐ MỘT NGƯỜI MẤT TÍCH
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Q, TỈNH HÀ GIANG
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Hoàng Văn Thuận
Thư ký phiên họp: Bà Anh Thị Thanh Tâm - Thẩm tra viên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Q tham gia phiên họp: Ông Hồ Lỷ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Q, tỉnh Hà Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 03/2018/TLST-DS. ngày 07 tháng 12 năm 2018 về việc: Yêu cầu tuyên bố một người mất tích theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 01/2019/QĐST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí D, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Ma Thị V, sinh năm: 1976; Địa chỉ cư trú sau cùng trước khi biệt tích: Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Anh Sùng Mí D và chị Ma Thị V tự nguyện về chung sống với nhau từ tháng 10 năm 1993 và làm thủ tục cưới hỏi theo phong tục tập quán địa phương, nhưng không có đăng ký kết hôn, đến tháng 11 năm 1993 chị Ma Thị V chuyển khẩu và nhập khẩu về gia đình anh D tại Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang, anh D, chị V chung sống hạnh phúc và có hai con chung là: Sùng Mí P, sinh năm: 1995 và Sùng Mí H, sinh năm: 2001. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn gì, đến ngày 16/7/2012 chị Ma Thị V đi về nhà bố mẹ đẻ tại xã T, huyện V, tỉnh Hà Giang chơi được 10 ngay sau không thấy chị V quay về anh D đã đến nhà bố mẹ vợ tìm chị V nhưng không thấy, gia đình bố mẹ chị V không biết chị V đi đâu. Anh D và người thân trong gia đình đã đi tìm nhiều lần, nhiều nơi nhưng đều không thấy, đến nay vẫn không có tin tức gì về chị Ma Thị V nên anh D làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Ma Thị V mất tích.
Tại phiên họp anh Sùng Mí D vẫn giữ nguyên quan điểm về yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ma Thị V mất tích.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp phát biểu ý kiến: Yêu cầu của anh Sùng Mí D về việc tuyên bố chị Ma Thị V mất tích là có căn cứ do việc chị Vàng bỏ nhà đi từ năm 2012 đến nay không về, Tòa án nhân dân huyện Q đã tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật, cho đến nay không có kết quả gì về chị Ma Thị V. Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đề nghị Tòa án nhân dân huyện Q áp dụng Điều 369, Điều 370 và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận đơn yêu cầu của anh Sùng Mí D về việc yêu cầu tuyên bố chị Ma Thị V mất tích. Về lệ phí Tòa án: Anh D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được
thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Q nhận định:
Về tố tụng: Đơn yêu cầu của anh Sùng Mí D yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ma Thị V mất tích được Tòa án nhân dân huyện Q thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung việc dân sự: Anh Sùng Mí D và chị Ma Thị V chung sống với nhau không có đăng ký kết hôn, chỉ được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của địa phương, anh chị chung sống với nhau hạnh phúc tại Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang. Quá trình chung sống không có mâu thuẫn gì và có hai con chung là: Sùng Mí P, sinh năm: 1995 và Sùng Mí H, sinh năm: 2001, đến tháng 7 năm 2012 chị V tự ý bỏ nhà đi, anh D và người thân trong gia đình đã áp dụng mọi biện pháp tìm kiếm nhưng không xác định được chị V hiện đang làm gì, ở đâu. Ngày 07 tháng 12 năm 2018 Tòa án nhân dân huyện Q đã thụ lý đơn yêu cầu của anh D về việc tuyên bố chị Vàng mất tích. Tòa án nhân dân huyện Q đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm đối với người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là chị Ma Thị V, Thông báo tìm kiếm chị Vàng được đăng trên đài tiếng nói Việt Nam vào hồi 11 giờ 45 các ngày 22, 23 và 24/12/2018 và thông báo trên báo Công lý trong 03 số liên tiếp là số: 100, 101 và 102 vào các ngày 14, 19 và 21/12/2018. Đến nay đã hết thời hạn 04 tháng kể từ ngày đăng, phát thông tin đầu tiên theo quy định tại Điều 388 của Bộ luật tố tụng dân sự, mà vẫn không có thông tin xác thực về việc chị V còn sống hay đã chết. Do vậy có đủ căn cứ để chấp nhận đơn yêu cầu của anh D về việc tuyên bố chị Ma Thị V mất tích theo quy định tại Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về lệ phí: Anh Sùng Mí D phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Anh D được quyền kháng cáo quyết định theo quy định tại Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 68 của Bộ luật dân sự và Điều 389 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 149 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6 khoản; 1 Điều 37 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Điều 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Tuyên bố chị Ma Thị V, sinh năm: 1976 nơi cư trú cuối cùng sau khi biệt tích: Thôn S, Xã Đ, huyện Q, tỉnh Hà Giang mất tích.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Sùng Mí D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Q theo biên lai số 05012 ngày 07/12/2018. Anh D đã nộp đủ lệ phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Anh Sùng Mí D có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Q; - Người yêu cầu; - CC THADS huyện Q; - UBND Xã Đ, huyện Q; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP ( Đã Ký ) Hoàng Văn Thuận |