- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định giải quyết việc Hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 150 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐHNGĐ-ST Ngày: 08 – 8 - 2019 V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Chủ tọa phiên họp: Bà Phan Diệu Hiền - Thẩm phán.
Thư ký phiên họp: Bà Trương Thị Hồng Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Năm Căn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn tham gia phiên họp: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2019/QĐPH-ST ngày 05 tháng 8 năm 2019.
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Phạm Thanh C, sinh năm 1980 (xin vắng mặt).
Anh Phạm Quang S, sinh ngày 30/10/1999 (xin vắng mặt).
Cùng hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.
2. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
Tại đơn yêu cầu, bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S trình bày: Trước đây bà C và anh S có đăng ký việc nuôi con nuôi, được Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau công nhận việc nuôi con nuôi tại Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 04/11/2010. Trong thời gian qua bà C và anh S thực hiện đúng quy định của pháp luật về nuôi con nuôi.
Hiện nay, bà C và anh S tự nguyện yêu cầu Tòa án huyện Năm Căn xem xét ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi với lý do: Con nuôi đã thành niên và mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi.
Tại phiên họp, bà C và anh S vắng mặt nên không có ý kiến khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Năm Căn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết việc dân sự của Thẩm phán, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết là đúng theo trình tự thủ tục và thẩm quyền, trong quá trình tiến hành tố tụng Thẩm phán, Thư ký tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Người yêu cầu trong vụ việc cũng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Thẩm phán căn cứ vào Điều 10, khoản 1 Điều 25 của Luật nuôi con nuôi; Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Năm Căn nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 02 tháng 8 năm 2019, bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S cùng yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà C đối với anh S, anh S cư trú tại ấp C, xã H, huyện N nên căn cứ khoản 5 Điều 29, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S có đơn xin vắng mặt phiên họp giải quyết việc hôn nhân và gia đình với lý do đang sống và làm việc ở xa, yêu cầu này của bà C và anh S là chính đáng nên căn cứ khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự, được chấp nhận.
Về nội dung vụ việc:
Bà Phạm Thanh C, ông Phạm Quang T và bà Ngô Kiều M có thỏa thuận cho và nhận con nuôi vào năm 2010 đối với anh Phạm Quang S, sinh ngày 30/10/1999, việc nhận nuôi con nuôi được lập thủ tục đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau theo Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 04/11/2010. Do đó việc nuôi con nuôi giữa bà C với anh S là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Trong thời gian qua bà C và anh S thực hiện đúng quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của mẹ nuôi và con nuôi. Hiện nay anh S đã thành niên, anh S và bà C tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi và yêu cầu Tòa án huyện Năm Căn xem xét ra quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi với lý do nêu trên. Xét thấy yêu cầu của hai đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật nuôi con nuôi nên có cơ sở chấp nhận. Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi được thực hiện theo Điều 27 Luật nuôi con nuôi và Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình.
Ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Về lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình: Căn cứ Điều 149, 150 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S là người có đơn yêu cầu nên phải chịu lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo quyết định theo quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 150, khoản 2 Điều 367, Điều 369 và Điều 370 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 10, khoản 1 Điều 25, Điều 27 của Luật nuôi con nuôi; Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc hôn nhân và gia đình của bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa mẹ nuôi là bà Phạm Thanh C và con nuôi là anh Phạm Quang S, sinh ngày 30/10/1999 theo Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 04/11/2010 của Ủy ban nhân dân xã Hàm Rồng, huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi với con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực.
Lệ phí giải quyết việc hôn nhân và gia đình phải nộp: Bà Phạm Thanh C và anh Phạm Quang S phải nộp lệ phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Ngày 02 tháng 8 năm 2019, bà C và anh S đã nộp số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006814 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, các đương sự không phải nộp thêm.
Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc tống đạt quyết định hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cà Mau; - VKSND huyện Năm Căn; - Chi cục THADS huyện Năm Căn; - UBND xã H; - Người yêu cầu; - Lưu HSVDS. | THẨM PHÁN (Đã ký) Phan Diệu Hiền |