- Tranh chấp gì? "Quyết định đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐ-TA | TP. Lạng Sơn, ngày 07 tháng 01 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Minh Huyền
2. Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Thu Ngà
Ngày 07 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 29/2018/QĐ-TA ngày 26 tháng 12 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Trần Hữu Đ. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 30 tháng 11 năm 1996.
Dân tộc: Nùng. Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: 10/12
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 7, đường P, khối C, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không.
Tiền án: 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo bản án số 01/2017/HSST ngày 16/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù, ngày 02/8/2017 Trần Hữu Đ chấp hành xong hình phạt tù).
Tiền sự: Không.
Con ông Trần Nam S và bà Hứa Thị H.
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đồng Xuân Hoàng - Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Bà Nguyễn Lan Phương - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Trần Hữu Đ là người nghiện chất ma túy từ năm 2012. Từ tháng 07/2018 đến tháng 10/2018 Công an phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn đã 03 lần tiến hành gọi hỏi và kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy đối với Trần Hữu Đ, kết quả cả 03 lần cho thấy Trần Hữu Đ đều dương tính với chất ma túy Methamphetamin. Do đó, công an phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Trần Hữu Đ vào các ngày 17/7/2018, 07/9/2018, 13/10/2018. Ngày 26 tháng 7 năm 2018, Trần Hữu Đ đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 23/QĐ-UBND và quản lý cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình theo quyết định số 14a/QĐ-UBND ngày 31/7/2018 của Ủy ban nhân dân phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Ngày 13/10/2018 Ủy ban nhân dân phường Chi Lăng đã ra Quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do Trần Hữu Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Ý kiến của đại diện cơ quan đề nghị Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn: Đối tượng Trần Hữu Đ đã được cai nghiện tại gia đình, áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường theo Nghị định 111/2013/NĐ-CP ngày 30/9/2013 của Chính phủ, Đức còn có 01 tiền án về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn không tiến bộ, thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy và bị lệ thuộc vào chất ma túy. Về nhân thân Trần Hữu Đ là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức được hành vi sử dụng chất ma túy là trái phép. Về tình tiết giảm nhẹ trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, người bị đề nghị đã thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Tại phiên họp hôm nay Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 đến 24 tháng.
Ý kiến trình bày của Trần Hữu Đ: Từ tháng 06/2012 Trần Hữu Đ bắt đầu sử dụng ma túy đá (Methamphetamin) với bạn bè, hình thức sử dụng là hít, tuần sử dụng ma túy một lần. Tiền mua ma túy do làm việc cho gia đình mà có. Tháng 03/2015 Trần Hữu Đ tham gia nghĩa vụ quân sự tại S, Hà Nội với thời hạn 18 tháng, đến tháng 08/2016 Đức được xuất ngũ về sinh sống với gia đình tại số nhà 07, đường P, phường C, thành phố L. Tháng 09/2016 do bạn bè rủ rê, Trần Hữu Đ tiếp tục sử dụng ma túy đá. Ngày 16/01/2017 Trần Hữu Đ bị Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 09 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 02/08/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Sau khi trở về địa phương, tháng 04/2018 Đức tiếp tục sử dụng lại ma túy đá nhưng không thường xuyên. Tại phiên họp, Trần Hữu Đ thừa nhận được thực hiện các hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ tháng 07/2018 đến tháng 10/2018 theo như các tài liệu trong hồ sơ đã thể hiện, tuy nhiên kể từ khi test ma túy vào ngày 13/10/2018 đến nay Đức đã không còn sử dụng ma túy nữa, mặt khác ngày 11/11/2018 vợ Đức vừa mới sinh con, hiện nay Đức là lao động chính trong gia đình nên Trần Hữu Đ đề nghị Tòa án, Viện kiểm sát và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội xem xét đến hoàn cảnh gia đình của Đức khi quyết định thời hạn đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đức.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị; trình tự, thủ tục tại phiên họp; người tiến hành phiên họp và người tham gia phiên họp thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của pháp luật. Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ xét thấy có căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu Đ. Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp hôm nay người bị đề nghị đã nhận ra lỗi lầm của mình, xem xét hoàn cảnh gia đình của người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 15 đến 20 tháng.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu Đ được thực hiện như sau:
Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hồ sơ được lập đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục và đảm bảo đầy đủ các tài liệu theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thể hiện Trần Hữu Đ là người nghiện ma túy, trên 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, do nghiện ma túy nhưng vẫn còn nghiện và bị lệ thuộc vào chất ma túy, không có căn cứ chứng minh Trần Hữu Đ bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính, nên Trần Hữu Đ thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Theo biên bản vi phạm hành chính do Công an phường Chi Lăng, thành phố Lạng Sơn lập ngày 13/10/2018 thể hiện Trần Hữu Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamin. Như vậy tính đến ngày hôm nay chưa quá 03 tháng, vì vậy vẫn trong thời hiệu xử lý theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị: Theo các tài liệu, chứng cứ xác định được Trần Hữu Đ có nơi cư trú ổn định tại số 7, đường P, khối C, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn nên theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thẩm quyền lập hồ sơ thuộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Chi Lăng và Công an phường có trách nhiệm giúp thu thập tài liệu, lập hồ sơ là đúng quy định.
Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần Hữu Đ là đầy đủ, hợp pháp theo quy định của pháp luật.
Hành vi vi phạm của Trần Hữu Đ đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhưng không có tiến bộ, hành vi này gây ảnh hưởng cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp ngày hôm nay người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Xét về nhân thân Trần Hữu Đ có 01 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo bản án số 01/2017/HSST ngày 16/01/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đến nay chưa được xóa án tích. Bản thân Trần Hữu Đ nghiện ma túy từ năm 2012, sau khi chấp hành hình phạt tù trở về địa phương không chịu tu dưỡng, rèn luyện nên tiếp tục lệ thuộc vào chất ma túy. Trần Hữu Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý hành chính nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, việc đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết.
Tại phiên họp, đại diện Phòng lao động thương binh xã hội đề nghị đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 20 tháng đến 24 tháng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn đề nghị đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn từ 15 tháng đến 20 tháng.
Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ, các ý kiến tại phiên họp, nhân thân, tình tiết tăng nặng không có, có 01 tình tiết giảm nhẹ, cũng như xem xét hoàn cảnh gia đình của người bị đề nghị thấy rằng cần đưa Trần Hữu Đ vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 15 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Trần Hữu Đ đã gây ra. Đảm bảo có thời gian hợp lý để lao động, học tập và cai nghiện ma túy dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc. Có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Trần Hữu Đ trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95, Điều 96; Điều 103; Điều 105; Điều 106 và Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính;
Áp dụng Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ;
Áp dụng Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:
Trần Hữu Đ. Sinh ngày 30 tháng 11 năm 1996.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số 7, đường P, khối C, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Nghề nghiệp: Không.
Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Lạng Sơn, địa chỉ: Km 10, xã T, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định:
Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố Lạng Sơn chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố Lạng Sơn đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Lạng Sơn; - Công an thành phố Lạng Sơn; - VKSND thành phố Lạng Sơn; - Phòng Tư pháp thành phố Lạng Sơn; - Phòng LĐTB &XH thành phố Lạng Sơn; - UBND phường Chi Lăng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Minh Huyền |