- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Tiến M. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 22/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2019/QĐ-PT | Bình Dương, ngày 07 tháng 3 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán:
Bà Thái Thị Hữu Xuân;
Ông Huỳnh Văn Luật.
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Nguyễn Thị Minh Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 22/2018/QĐST-LĐ ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương đã căn cứ vào Điều 48; khoản 2 Điều 184; điểm e khoản 1 Điều 217; Điều 218; Điều 219; khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động về việc “tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phan Tiến M, sinh năm 1981; địa chỉ: phường H, thành phố, tỉnh Bình Dương.
- Bị đơn: Công ty TNHH T V; địa chỉ: khu công nghiệp M, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Seung Yong Y – Tổng Giám đốc.
Theo đơn kháng cáo ngày 02/11/2018, nguyên đơn ông Phan Tiến M kháng cáo toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 22/2018/QĐST-LĐ ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã B với lý do:
Ông Phan Tiến M và Công ty TNHH T V ký Hợp đồng lao động số 15097/HĐLĐ-TH6 ngày 08/02/2016, thời hạn từ ngày 08/02/2016 đến ngày 07/02/2017. Trong quá trình làm việc, Công ty TNHH T V ra Quyết định số 30/2016/QĐ-THV ngày 03/11/2016 chấm dứt hợp đồng lao động đối với ông M.
Ngày 20/7/2017, ông M nộp đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng lao động tại TAND thị xã B. Ngày 26/02/2018, TAND thị xã B ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 08/2018/QĐST-LĐ, tại Điều 2 của quyết định có ghi “nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định của pháp luật”. Không đồng ý quyết định sơ thẩm, ông M có đơn kháng cáo. Ngày 20/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định phúc thẩm số 02/2018/QĐ-PT có nội dung giữ nguyên Quyết định số 08/2018/QĐST-LĐ ngày 26/02/2018 của TAND thị xã B.
Căn cứ Điều 2 Quyết định số 08/2018/QĐST-LĐ ngày 26/02/2018 của TAND thị xã B và Quyết định số 02/2018/QĐ-PT ngày 20/6/2018 của TAND tỉnh Bình Dương, ngày 17/7/2018 ông M tiếp tục nộp đơn khởi kiện vụ án tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại TAND thị xã B.
Ngày 22/10/2018, TAND thị xã B ban hành Quyết định số 22/2018/QĐST-LĐ đình chỉ giải quyết vụ án. Ông Phan Tiến M cho rằng Quyết định số 22/2018/QĐST-LĐ ngày 22/10/2018 của TAND thị xã B gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông nên ông M kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm hủy quyết định sơ thẩm và xem xét tiếp tục giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị giữ nguyên quyết định sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Ông Phan Tiến M cho rằng tại Điều 2 của Quyết định đình chỉ số 08/2018/QĐST-LĐ ngày 26/02/2018 của TAND thị xã B có ghi “nguyên đơn có quyền khởi kiện lại vụ án theo quy định pháp luật” nên ông M được quyền khởi kiện lại yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án. Ngày 17/7/2018 ông M nộp đơn khởi kiện Công ty TNHH T V về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân thị xã B.
Theo nội dung Biên bản lấy lời khai ngày 22/8/2018 (bút lục số 35-36) và Biên bản làm việc ngày 11/9/2018 (bút lục số 37-38), ông Phan Tiến M xác định ông nhận được Quyết định số 30/2016/QĐ-THV ngày 03/11/2016 của Công ty TNHH T V về việc chấm dứt hợp đồng vào ngày 03/11/2016; đồng thời ông M cũng thừa nhận tính từ ngày 03/11/2016 đến ngày ông M nộp đơn khởi kiện lại vụ án 17/7/2018 thì không có trở ngại khách quan hoặc sự kiện bất khả kháng nào làm ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện của vụ án này.
Thời hiệu khởi kiện vụ án lao động được quy định tại Điều 202 Bộ luật Lao động là “01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Như vậy, tính từ ngày 03/11/2016 đến ngày ông M nộp đơn khởi kiện 17/7/2018 thì thời hiệu khởi kiện vụ án lao động đã hết. Mặt khác, bị đơn có yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện nên căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 1 Điều 148; khoản 1, điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Tiến M. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án lao động số 22/2018/QĐST-KDTM ngày 22/10/2018 của Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Dương.
2. Án phí phúc thẩm: Ông Phan Tiến M được miễn án phí theo quy định pháp luật.
3. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND tỉnh Bình Dương; - TAND TX. B; - Chi cục THADS TX. B; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa LĐ, tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Nguyễn Công Lực |