vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐ-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn T.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2019/QĐST KDTM ngày 02/5/2019 của Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về việc “Kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại – dịch vụ A (đã giải thể), người kế thừa quyền, nghĩa vụ: Bà Lê Thị Tố L với bị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại – dịch vụ A (đã giải thể), người kế thừa quyền, nghĩa vụ: Bà Lê Thị Tố L “Kiện đòi tài sản” với Công…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn T.
  • Căn cứ chính? Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐ-PTLâm Đồng, ngày 15 tháng 7 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Huỳnh Châu Thạch

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Văn Hùng

Ông Huỳnh Văn Hiệp

- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Tâm - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên họp: Ông Ngô Phạm Thế Mỹ - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2019/QĐST - KDTM ngày 02/5/2019 Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đã căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết vụ án Kinh doanh thương mại về việc “Kiện đòi tài sản” giữa:

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại – dịch vụ A. Trụ sở: số 68A, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, đã giải thể.

Người kế thừa quyền, nghĩa vụ: Bà Lê Thị Tố L, sinh năm: 1978; cư trú tại số 68A, đường N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng - Giám đốc và là Chủ sở hữu của Công ty.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1959; cư trú tại số 45, đường T, Phường 4, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng – Luật sư của Văn phòng luật sư T, Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T. Trụ sở: số 396, đường B, Phường 2, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp:

- Bà Đỗ Thị Bích Th, sinh năm: 1958; cư trú tại số 17, đường L, Phường P, quận H, thành phố P; là người đại diện theo pháp luật (Giám đốc).

- Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm: 1966; địa chỉ liên lạc: số 69 (số cũ 36/1), đường Tr, Phường 4, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 18/01/2019).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm: 1971; hiện đang chấp hành án tại tổ 10, phân trại 05, Trại giam X, tỉnh Đồng Nai.

Tại đơn kháng cáo ngày 03/5/2019 bị đơn không đồng ý với Quyết định nói trên bởi lẽ việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn chưa được sự đồng ý của bị đơn theo quy định tại Khoản 4 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 mà cấp sơ thẩm đã đình chỉ việc giải quyết vụ án; đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại theo quy định.

Tại phiên họp,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, về nội dung: đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Quyết định sơ thẩm.

XÉT THẤY:

Vụ án nói trên đã được Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giải quyết tại Bản án số 10/2018/KDTM-ST ngày 30/11/2018. Do bị đơn có đơn kháng cáo, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng có quyết định kháng nghị nên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

Tại Bản án số 02/2019/KDTM-ST ngày 13/3/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm nói trên do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung vụ án còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ.

Sau khi Tòa án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng thụ lý lại vụ án, ngày 25/4/2019 Bà Lê Thị Tố L, Giám đốc và là Chủ sở hữu của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại – dịch vụ A (gọi tắt là Công ty A) có đơn xin rút đơn khởi kiện.

Qua xem xét thì thấy rằng vụ án nói trên đã được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, do bị cấp phúc thẩm hủy án nên cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục chung. Quá trình giải quyết tại giai đoạn sơ thẩm, bà Lê Thị Tố Loan, Giám đốc và là Chủ sở hữu của Công ty A, có đơn xin rút đơn khởi kiện. Xét thấy do hiện nay Công ty A đã giải thể, Bà Lê Thị Tố L là chủ sở hữu của Công ty nên phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác chưa thanh toán và là người kế thừa quyền, nghĩa vụ của Công ty A trong vụ án này nên việc rút đơn khởi kiện của bà Loan là phù hợp với quy định của pháp luật. Trong vụ án này bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập; cấp sơ thẩm căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.

Đối với việc bị đơn cho rằng do vụ án bị hủy nên khi giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm, việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn phải được sự đồng ý của bị đơn theo quy định tại Khoản 4 Điều 217 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì thấy rằng “Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện thì việc đình chỉ giải quyết vụ án phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” chỉ được áp dụng trong trường hợp vụ án được giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; vụ án này chỉ bị hủy theo trình tự phúc thẩm nên không thể áp dụng điều luật vừa viện dẫn được.

Cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của pháp luật, đình chỉ việc giải quyết vụ án là có cơ sở nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn T.

Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự phải chịu án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ Khoản 1, Điểm a Khoản 5 Điều 314, Điểm c Khoản 1 Điều 217, Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn T.

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 04/2019/QĐST

- KDTM ngày 02/5/2019 của Toà án nhân dân thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng về việc “Kiện đòi tài sản” giữa nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại – dịch vụ A (đã giải thể), người kế thừa quyền, nghĩa vụ: Bà Lê Thị Tố L với bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Tuyết M.

2. Về án phí:

Công ty trách nhiệm hữu hạn T phải chịu 2.000.000đ án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm, được trừ vào số tiền 2.000.000đ tạm ứng án phí Kinh doanh thương mại phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0012194 ngày 17/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng (Bà Nguyễn Thị Tuyết H nộp thay). Công ty trách nhiệm hữu hạn T đã nộp đủ án phí.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ