vanban.org

Quyết định 01/2019/QĐ-PT

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 08/01/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/01/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị H. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 12/2018/QĐST-HC ngày 13 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí: Bà Đỗ Thị H không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Bà Đỗ Thị H - Ủy ban nhân dân huyện Y"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị H. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 12/2018/QĐST-HC ngày 13 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 144 Luật tố tụng hành chính; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2019/QĐ-PTHà Nội, ngày 08 tháng 01 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Thái Duy Nhiệm;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn sơn;

Bà Lê Thị Thúy Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên

họp: Bà Phạm Thị Minh Hải, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 12/2018/QĐST-HC ngày 13 tháng 8 năm 2018.

Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 134/QĐ-UB ngày 05/02/2004; hủy một phần Quyết định số 1316/QĐ-UB ngày 05/8/2005, Quyết định số 672/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân huyện Y (nay là thị xã Q)”, giữa:

Người khởi kiện: Bà Đỗ Thị H

Địa chỉ: Khu 9, phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện Y (nay là Ủy ban nhân dân thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh (gọi tắt là UBND).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 17 tháng 8 năm 2018, bà Đỗ Thị H yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 12/2018/QĐST-HC ngày 13 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

XÉT THẤY:

Ngày 05/02/2004 UBND huyện Y (nay là Thị xã Q) tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 134/QĐ-UB về việc thu hồi đất để mở rộng nút giao thông khu vực ngã ba sông Cầu Sông Chanh - xã Yên Giang (gọi tắt là Quyết định số 134); ngày 05/8/2005 UBND huyện Y, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 1316/QĐ-UB (gọi tắt là Quyết định 1316) về việc phê duyệt phương án bồi thường giải phóng mặt bằng (bổ sung) để nâng cấp tuyến đường Biều Nghi - Phà Rừng, huyện Y và ngày 15/5/2006 UBND huyện Y, tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số: 672/QĐ-UB phê duyệt bổ sung phương án đền bù giải phóng mặt bằng cho hộ ông, bà Hoàng Hữu Kiểm - Đỗ Thị H trú tại xóm 5, Yên Giang (gọi tắt là Quyết định 672).

Ngày 18/5/2017 bà Đỗ Thị H có khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh yêu cầu tuyên bố hành vi ép, vận động gia đình bà H phải nhận nơi ở tái định cư không đảm bảo cuộc sống cho gia đình bà của UBND tỉnh Quảng Ninh và UBND thị xã Q, sau đó bà Đỗ Thị H thay đổi nội dung đơn khởi kiện là kiện các Quyết định số 134, Quyết định số 1316, Quyết định số 672 của UBND huyện Y

Ngày 03 tháng 5 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã thụ lý vụ án và ngày 13 tháng 8 năm 2018, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Quyết định số 12/2018/QĐST-HC đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng phúc thẩm thấy: Sau khi UBND huyện Y ban hành các Quyết định trên (134, 1316, 672) do không đồng ý nên bà Đỗ Thị H đã có đơn khiếu nại đến UBND huyện Y; ngày 22/12/2005 UBND huyện Y ban hành Quyết định số 2753/QĐ-UB giải quyết khiếu nại của bà H với nội dung không chấp nhận khiếu nại của bà H. Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại của UBND huyện Y (lần1); bà H tiếp tục có đơn khiếu nại đến UBND tỉnh Quảng Ninh; Ngày 14/9/2006 UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Quyết định số 2738/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Đỗ Thị H (lần 2); không chấp nhận khiếu nại của bà H, đồng thời yêu cầu UBND huyện Y hoàn tất thủ tục để mời bà H nhận tiền đền bù.

Ngày 24/10/2008 bà Đỗ Thị H đã có đơn đề nghị, ký cam kết tự nguyện tháo dỡ nhà, công trình, nhận tiền bồi thường và một suất đất tái định cư, đồng thời di chuyển đến nơi tái định cư. Như vậy, UBND huyện Y và UBND tỉnh Quảng Ninh đã gải quyết khiếu nại của bà H đúng quy định của pháp luật và bà cũng đã đồng ý với phương án bồi thường.

Tuy nhiên, bà Đỗ Thị H vẫn tiếp tục có đơn khiếu nại gửi đi nhiều nơi, ngày 10/12/2013 UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành Thông báo số 256/UBND-TD “Về việc chấp dứt giải quyết vụ việc khiếu nại của bà Đỗ Thị H, trú tại khu 9, phường Q, thị xã Q”, nhưng đến ngày 18/5/2017 bà H mới có đơn khởi kiện tại Tòa án là đã hết thời hiệu theo quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính; xét thời hiệu khởi kiện đã hết nên việc Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh căn cứ vào Điều 143, Điều 144 Luật tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị H, cần giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Bà Đỗ Thị H thuộc trường hợp miễn nộp tiền án phí nên không phải nộp án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào Điều 243 Luật tố tụng hành chính,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Đỗ Thị H. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 12/2018/QĐST-HC ngày 13 tháng 8 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

2. Về án phí: Bà Đỗ Thị H không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ