- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "vợ chồng ông Trịnh Văn H và bà Bùi Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố chị Trịnh Thị H mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố chị Trịnh Thị H, sinh ngày 25/02/1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐST-DS | Bình Sơn, ngày 28 tháng 12 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đoàn Kiều Trung
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Lên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên họp: Ông Phạm Thanh Tứ - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 09/2018/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2018 về việc “tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 93/2018/QĐST-DS ngày 21 tháng 12 năm 2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: vợ chồng ông Trịnh Văn H, sinh năm 1956 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1954;
Đều địa chỉ: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 03/12/2018 và đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự bổ sung đề ngày 19/12/2018, vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T (người yêu cầu) trình bày như sau:
Vợ chồng ông H, bà T có 05 người con: Trịnh Văn V, sinh năm 1982; Trịnh Văn Q, sinh năm 1984; Trịnh Văn Tr, sinh năm 1988; Trịnh Thị H, sinh năm 1991; Trịnh Thị C, sinh năm 1994. Tuy nhiên trong 05 người con thì có con Trịnh Thị H bị ảnh hưởng chất độc màu da cam do bản thân ông Trịnh Văn H đi chiến trường ở Quảng Nam năm 1972 và chiến trường Campuchia năm 1978. Từ khi sinh ra Trịnh Thị H bị câm điếc bẩm sinh, chậm biết đi, không học hành được và không tự lo được sinh hoạt hằng ngày cho bản thân. Hiện nay H đang được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo Phiếu trợ cấp số 127/PLS-SLĐTBXH, ngày 25/6/2008 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Q. Gia đình ông, bà đã đi giám định cho Trịnh Thị H tại Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung và đã kết luận về y học H chậm phát triển tâm thần mức trầm trọng (F73), về năng lực hành vi dân sự thì H mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự.
Vậy nay vợ chồng ông, bà yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên bố Trịnh Thị H, sinh năm 1991 có hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay tại thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q bị mất năng lực hành vi dân sự
Lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề nêu trên: hiện nay gia đình ông, bà làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho con Trịnh Văn Tr nên yêu cầu Tòa án tuyên bố Trịnh Thị H mất năng lực hành vi dân sự để gia đình ông, bà làm thủ tục liên quan đến quyền sử dụng đất của gia đình. Căn cứ để yêu cầu Tòa án tuyên bố Trịnh Thị H mất năng lực hành vi dân sự là trên thực tế Trịnh Thị H không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình theo quy định của Bộ luật dân sự và đã được Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung giám định theo Kết luận số 1054/KLGĐYC, ngày 27/11/2018.
Ý kiến của kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp:
Qua xem xét đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy rằng việc vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố con ông bà là chị Trịnh Thị H bị mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, đề nghị Thẩm phán áp dụng các Điều 376 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông H, bà T, tuyên bố chị Trịnh Thị H, sinh năm 1991, trú tại: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q mất năng lực hành vi dân sự.
Kiến nghị: không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q nhận định:
Về quyền yêu cầu: vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T là cha, mẹ của Trịnh Thị H nên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trịnh Thị H mất năng lực hành vi dân sự.
Qua nội dung yêu cầu của vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Trịnh Thị H, sinh năm 1991, trú tại: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q mất năng lực hành vi dân sự. Xét thấy, chị Trịnh Thị H từ nhỏ chậm phát triển về thể chất và tâm thần không bình thường như biểu hiện chậm biết đi, chậm biết nói, không học hành được, câm điếc bẩm sinh, chị H được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo Phiếu trợ cấp số 127/PLS-SLĐTBXH, ngày 25/6/2008 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Q; theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 1054/KLGĐYC, ngày 27/11/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Miền Trung kết luận đối với chị H về y học Hiếu chậm phát triển tâm thần mức trầm trọng (F73), về năng lực hành vi dân sự thì chị H mất hoàn toàn năng lực hành vi dân sự, Theo quy định tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật dân sự thì: Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.
Xét tình trạng thực tế và kết quả giám định pháp y tâm thần của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật về điều kiện yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Do vậy, Tòa án đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T xác định chị Trịnh Thị H, sinh năm 1991, trú tại: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q mất năng lực hành vi dân sự.
. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí theo Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Người yêu cầu được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 22, 53, 57, 58, 59, 60, 61, 62 và Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 27, 48, 149, 369, 370, 371, 372, 376 và 378 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố chị Trịnh Thị H, sinh ngày 25/02/1991, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q mất năng lực hành vi dân sự.
2. Vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T, cư trú tại: thôn An H, xã B, huyện B, tỉnh Q là người giám hộ cho chị Trịnh Thị H.
Các giao dịch dân sự của chị Trịnh Thị H phải do người đại diện xác lập, thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 57 Bộ luật dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: vợ chồng ông Trịnh Văn H, bà Bùi Thị T được miễn nộp tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí theo Thông báo về việc miễn tiền tạm ứng lệ phí, lệ phí số 95/TB-TA, ngày 20/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện B.
4. Người yêu cầu được quyền kháng cáo Quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ Tòa án ra quyết định (28/12/2018). Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q; - VKSND huyện B; - Chi cục THADS huyện B; - UBND xã B; - Người yêu cầu; - Lưu hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN Đoàn Kiều Trung |