- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Yêu cầu xác định cho cha cho con chưa thành niên"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH KIÊN GIANG Số: 01/2018/QĐHNGĐ-ST Ngày: 28-6-2018 V/v: Yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Chủ tọa phiên họp: Ông Trương Ngọc Hồng - Thẩm phán
- Thư ký phiên họp: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc tham gia phiên họp: Ông Lê Văn Chung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số: 02/2018/TLST-VHNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2018 về yêu cầu “Xác định cha cho con chưa thành niên” theo Quyết định mở phiên họp số: 02/2018/QĐPH-VHNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2018.
1. Người yêu cầu: Ông Vũ Ngọc C, sinh năm 1967 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn B, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lâm Thị Ngọc D, sinh năm 1976 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
- Cháu Hoàng Minh K1, sinh ngày 05/6/2012
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo pháp luật của cháu K: Bà Lâm Thị Ngọc D, sinh năm 1976 (mẹ ruột)
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn D, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Hoàng Quốc K, sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số 425 Chung Cư Đoàn Văn B, Phường H, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh.
Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Theo đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp ông Vũ Ngọc C trình bày: Ngày 15/8/2011, bà Lâm Thị Ngọc D và ông Hoàng Quốc K đã ly hôn theo Quyết định số 202/2011/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận L, Tp Hồ Chí Minh. Sau đó, giữa ông và bà D có quan hệ tình cảm với nhau. Đến ngày 05/6/2012 bà D sinh được một người con gái là huyết thống của ông. Tuy nhiên, do hoàn cảnh cộng với việc sức khỏe suy giảm trầm trọng phải cấp cứu dài ngày tại Bệnh viện, bà D không trực tiếp đi khai sinh cho con gái được nên em gái bà D là Lâm Ngọc Vy A đã đi làm thủ tục khai sinh cho cháu, đặt tên là Hoàng Minh K1 với tên cha là Hoàng Quốc K và được Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh cấp giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Sau khi phát hiện sự nhầm lẫn này, ngày 07/12/2013, bà Lâm Thị Ngọc D đã có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh hủy tờ giấy khai sinh đã cấp cho con gái ông nêu trên với lý do ông Hoàng Quốc K không phải là cha của con gái bởi giữa ông K và bà D đã ly hôn từ lâu.
Tại biên bản làm việc ngày 07/12/2013, Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh đã xác định việc cấp giấy khai sinh có sự không chính xác; ông Hoàng Quốc K cũng khẳng định cháu Hoàng Minh K1 không phải con ruột của mình và yêu cầu hủy giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Hiện nay giữa ông và bà D đã có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, Kiên Giang cấp. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con gái nên ông C làm đơn yêu cầu xác định ông là cha ruột của cháu Hoàng Minh K1 theo quy định của pháp luật.
- Tại bản tự khai và tại phiên họp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Ngọc D trình bày: Ngày 15/8/2011 bà và ông Hoàng Quốc K đã ly hôn theo Quyết định số 202/2011/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận L, Tp Hồ Chí Minh. Sau đó, giữa bà và ông Vũ Ngọc C có quan hệ tình cảm với nhau. Đến ngày 05/6/2012 bà sinh được một người con gái là huyết thống của ông C. Tuy nhiên, do hoàn cảnh bà không trực tiếp đi khai sinh cho con gái được nên có nhờ em gái là Lâm Ngọc Vy A đi làm thủ tục khai sinh cho cháu, đặt tên là Hoàng Minh K1 với tên cha là Hoàng Quốc K và được Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh cấp giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Sau khi em gái bà mang giấy khai sinh về bà mới phát hiện sự nhầm lẫn này. Ngày 07/12/2013 bà có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L hủy giấy khai sinh đã cấp cho con gái bà với lý do ông Hoàng Quốc K không phải là cha của con gái bà bởi giữa bà và ông K đã ly hôn từ lâu.
Tại biên bản làm việc ngày 07/12/2013, Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh đã xác định việc cấp giấy khai sinh có sự không chính xác; ông Hoàng Quốc K cũng khẳng định cháu Hoàng Minh K1 không phải con ruột của mình và yêu cầu hủy giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Hiện nay giữa bà và ông C đã có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện P, Kiên Giang cấp. Bà cam đoan cháu Hoàng Minh K1 là con chung của bà và ông C và đồng ý với yêu cầu của ông C về việc xin xác định ông C là cha ruột của cháu Hoàng Minh K1.
- Tại bản tự khai và đơn xin vắng mặt ngày 01/6/2018 ông Hoàng Quốc K trình bày: Ông và bà Lâm Thị Ngọc D trước đây là vợ chồng. Do cuộc sống không hòa hợp nên ngày 15/8/2011 bà D và ông đã thuận tình ly hôn theo Quyết định số 202/2011/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân Quận L, Tp Hồ Chí Minh.
Sau đó, ông được biết bà D có quan hệ tình cảm với ông C. Đến ngày 05/6/2012 bà D sinh được một người con gái. Em gái bà D là Lâm Ngọc Vy A đi làm thủ tục khai sinh cho cháu, đặt tên là Hoàng Minh K1 với tên cha là Hoàng Quốc K và được Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh cấp giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Ngày 07/12/2013 bà D đã có đơn đề nghị Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L hủy giấy khai sinh đã cấp cho con gái nêu trên với lý do ông không phải là cha của con gái bà. Trên thực tế, giữa ông và bà D đã ly hôn được một thời gian dài.
Khi được chính quyền mời làm việc, ông mới biết được sở dĩ có sự nhầm lẫn này là do em gái bà D đã đi làm thủ tục khai sinh cho cháu với những thông tin phần về cha mẹ cháu không phù hợp với thực tế. Tại biên bản làm việc ngày 07/12/2013, Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Tp Hồ Chí Minh đã xác định việc cấp giấy khai sinh có sự không chính xác; Ông cũng khẳng định cháu Hoàng Minh K1 không phải con ruột của ông và yêu cầu hủy giấy khai sinh số 77, quyển số 01/2012 ngày 01/8/2012.
Hiện nay ông biết rằng ông C và bà D đã có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện P, Kiên Giang cấp. Việc xác định cháu Hoàng Minh K1 là con của ông C theo nguyện vọng của ông ấy là phù hợp với thực tế. Bản thân ông không có bất cứ một tranh chấp gì đối với yêu cầu của ông C cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Hoàng Minh K1. Ông cam đoan lời khai là đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Quốc có ý kiến: Ông C yêu cầu có căn cứ và được bà D và ông K chấp nhận, nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông C về việc xác định cháu K1 là con ruột của ông C.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc nhận định:
- Về thẩm quyền giải quyết: Việc yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên được quy định tại khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thụ lý theo khoản 10 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện.
- Về nội dung yêu cầu: Ông Vũ Ngọc C yêu cầu Tòa án xác định cháu Hoàng Minh K1 là con ruột của ông. Xét yêu cầu của ông Vũ Ngọc C, lời trình bày của bà Lâm Thị Ngọc D, ông Hoàng Quốc K đều thừa nhận và khẳng định cháu Hoàng Minh K1 là con ruột của bà D và ông C, việc kê khai tên cha trong giấy khai sinh của cháu K1 là do nhầm lẫn, đều này đã được các bên thống nhất tại Biên bản làm việc của Ủy ban nhân dân Phường J, Quận L, Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 07/12/2013. Nay bà D và ông K đều đồng ý đối với yêu cầu của ông C được nhận cháu K1 là con ruột của ông C. Do đó, cần chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát. Căn cứ khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xét yêu cầu của ông C là có căn cứ chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm ông Vũ Ngọc C được miễn nộp lệ phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Khoản 10 Điều 29; 370; 371 và 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Vũ Ngọc C về việc xác định ông C là cha ruột của cháu Hoàng Minh K1.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của ông Vũ Ngọc C, bà Lâm Thị Ngọc D và ông Hoàng Quốc K về việc xác định ông Vũ Ngọc C là cha ruột của cháu Hoàng Minh K1, sinh ngày 05/6/2012.
2. Lệ phí sơ thẩm: Ông Vũ Ngọc C được miễn nộp lệ phí sơ thẩm.
3. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đối với đương sự vắng mặt thì thời hạn được tính kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Phú Quốc; - UBND phường 12, Quận 4; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trương Ngọc Hồng |