vanban.org

Quyết định 01/2018/QDDS-ST — Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hoàng Thị Thu H về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.

Tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 (đăng ký ngày 18/7/2013 tại UBND xã E, huyện K). Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu huỷ việc kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "hủy kết hôn trái pháp luật"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hoàng Thị Thu H về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.
  • Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG ANA
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐDS- ST
Ngày 15 tháng 3 năm 2018
V/v hủy kết hôn trái pháp luật

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Đại Minh - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Bảo Thụy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Ana.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.

Ngày 15/3/2018, tại Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, mở phiên họp sơ thẩm, công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 18/2018/TLST-VHNGĐ ngày 29/01/2018 về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật, theo quyết định mở phiên họp số 03/QĐ-PH ngày 01/3/2018.

1/ Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1992,

Trú tại: Thôn T, xã B, huyện M, tỉnh Bình Phước.

2/ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Đặng Tấn T, sinh năm 1988 và chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1994.

Cùng trú tại: Thôn H, xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk.

- Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đăk Lăk

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Xuân K – Chủ tịch UBND xã E.

3/ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Đặng Tấn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn tại UBND xã E vào ngày 25/11/2011 sau đó chung sống được khoảng 02 tháng thì xảy ra mâu thuẫn, chị H về nhà mẹ đẻ sinh sống, sinh con và nuôi con cho đến nay. Chị H và anh T chỉ ly thân mà chưa làm thủ tục ly hôn. Ngày 18/7/2013 anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 đăng ký kết hôn tại UBND xã E là trái quy định của pháp luật.

Chị Hoàng Thị Thu H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 xác nhận nội dung trình bày của chị Hoàng Thị Thu H là đúng và đồng ý với đề nghị của chị H.

Về con chung: Anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 có 01 con chung là Đặng Hoàng Bảo A, sinh ngày 05/6/2014, anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 thống nhất giao cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị H1 xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện UBND xã E trình bày: Nội dung chị Hoàng Thị Thu H đã trình bày là đúng, UBND xã đồng ý với yêu cầu của chị Hoàng Thị Thu H, việc đăng ký kết hôn giữa anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 là trái quy định của pháp luật, đề nghị Tòa án giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Đại diện VKSND huyện Krông Ana phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: TAND huyện Krông Ana thụ lý giải quyết yêu cầu hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 29, điểm b, khoản 2 Điều 35 và Điều 36 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Thẩm phán và thư ký Tòa án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Tòa án căn cứ vào điểm c, khoản 2 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 10, Điều 11 và Điều 12 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị Thu H, tuyên hủy việc đăng ký kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1.

Về con chung: Giao con chung cháu Đặng Hoàng Bảo A, sinh ngày 05/6/2014 cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị H1 xác định không có nên không giải quyết

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk nhận định:

Chị Hoàng Thị Thu H và anh Đặng Tấn T có đăng ký kết hôn vào ngày 25/11/2011 tại UBND xã E là quan hệ hôn nhân hợp pháp, sau thời gian chung sống khoảng 02 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng chưa được Tòa án giải quyết cho ly hôn. Ngày 18/7/2013 anh Đặng Tấn T đăng ký kết hôn với chị Hoàng Thị H1 tại UBND xã E là vi phạm quy định về những trường hợp cấm kết hôn. Đối với anh Đặng Tấn T vi phạm quy định người đang có vợ mà kết hôn với người khác, đối với chị Hoàng Thị H1 vi phạm quy định người chưa có chồng mà kết hôn với người đang có vợ. Tại điểm c khoản 2 Điều 5 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định cấm các hành vi sau: “…Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”. Việc chị Hoàng Thị Thu H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Ana hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 là có căn cứ, cần chấp nhận.

Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

- Anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

Về con chung: Anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 có một con chung là Đặng Hoàng Bảo A, sinh ngày 05/6/2014. Các đương sự thống nhất giao cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng là bảo đảm quyền lợi cho con chưa thành niên, cần chấp nhận. Chị H1 không yêu cầu anh Đặng Tấn T cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra giải quyết. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị H1 xác định không có nên không đề cập giải quyết.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: chị Hoàng Thị Thu H không phải chịu lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 29; điểm b, khoản 2 Điều 35 và Điều 36; Điều 367; 369; 370; 371 và Điều 372 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm c, khoản 2 Điều 5; điểm a, khoản 2 Điều 10; Điều 11 và Điều 12, Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của chị Hoàng Thị Thu H về việc “Hủy việc kết hôn trái pháp luật”.

Tuyên hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 (đăng ký ngày 18/7/2013 tại UBND xã E, huyện K).

Giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật.

- Anh Đặng Tấn T và chị Hoàng Thị H1 phải chấm dứt quan hệ như vợ chồng.

- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là cháu Đặng Hoàng Bảo A, sinh ngày 05/6/2014. Về cấp dưỡng nuôi con chị H1 không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết

Anh Đặng Tấn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung và công nợ chung: Anh T và chị H1 xác định không có nên không đề cập giải quyết.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Người yêu cầu chị Hoàng Thị Thu H không phải nộp lệ phí giải quyết việc dân sự. Hoàn trả lại tiền tạm ứng lệ phí số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) cho chị Hoàng Thị Thu H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K theo biên lai số: 0004185 ngày 29 tháng 01 năm 2018.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, VKSND cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày, kể từ kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ