vanban.org

Quyết định 01/2018/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An Tuyên án 12/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn D về việc yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Võ Thị S.

Tuyên bố: Bà Võ Thị S mất năng lực hành vi dân sự. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Phan Văn D được miễn nộp tiền lệ phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố một người mất NLHVDS (Võ Thị S)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn D về việc yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Võ Thị S.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 16 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2018/QĐDS- ST
Ngày: 12 - 6 - 2018
V/v: tuyên bố một người mất
năng lực hành vi dân sự

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG TỈNH LONG AN

- Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Xuân Liễu- Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Ông Lê Trọng Tâm- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương- Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 6 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 43/2018/TLST- VDS ngày 02 tháng 5 năm 2018 về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp số: 15/2018/QĐPH-ST ngày 30 tháng 5 năm 2018.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Phan Văn D, sinh năm 1951. Địa chỉ: Ấp C, xã Th, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Võ Văn L1, sinh năm 1924;

- Ông Phan Thanh L2, sinh năm 1988;

- Bà Phan Thị Ngọc M, sinh năm 1990;

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Th, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An;

- Bà Phan Thị D1, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn A, huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An;

- Bà Phan Thị Ngọc L3, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Long An;

- Bà Phan Thị H, sinh năm 1983;

- Bà Phan Thị V, sinh năm 1982.

Cùng địa chỉ: Ấp Tr, xã VTh, huyện T, tỉnh Long An.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ông D và bà S là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, ông và bà S có tài sản chung là diện tích đất khoảng 36.643m2 nhưng hiện nay bà S bị bệnh nên không thể thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản nêu trên nên ông D yêu cầu tuyên bố bà Võ Thị S bị mất năng lực hành vi dân sự.

Ông D có mặt; bà H, bà V, bà D1, bà L3, bà M, ông L1, ông L2 vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên họp.

NHẬN ĐỊNH:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng nhận định:

Về thẩm quyền: Ông Phan Văn D yêu cầu tuyên bố bà Võ Thị S bị mất năng lực hành vi dân sự, bà S có nơi cư trú tại ấp C, xã Th huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An nên căn cứ khoản 1 Điều 27; khoản 2 Điều 35; điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về tố tụng: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là các ông, bà: Võ Văn L1, Phan Thanh L2, Phan Thị Ngọc M, Phan Thị D1, Phan Thị Ngọc L3, Phan Thị H, Phan Thị V vắng mặt tại phiên họp lần thứ nhất nhưng có đơn đề nghị vắng mặt và trong hồ sơ đã có đầy đủ ý kiến của các ông bà nêu trên nên Tòa án vẫn tiến hành phiên họp là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung việc dân sự:

- Ông D trình bày: Ông D và bà S là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1977, sau này có đăng ký kết hôn và được UBND xã VTh, huyện T, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 20/2014 quyển số 01/2014 ngày 10/7/2014; Ông D và bà S có tài sản chung là diện tích đất 19.862m2, thửa 131, tờ bản đồ số 7 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 11/4/2013 do bà S đứng tên và diện tích 16.786m2, thửa 200, tờ bản đồ số 7 cấp ngày 01/11/2007 cho hộ bà Võ Thị S đứng tên; Từ ngày 10/02/2010 bà S bị bệnh tâm thần, bà S không tự chăm sóc được cho bản thân, gia đình đã đưa bà S đi điều trị nhưng bệnh tình không thuyên giảm và đưa bà S đến trung tâm giám định y khoa thuộc Sở y tế tỉnh Long An để kiểm tra thì kết quả giám định số 210/GĐYK ngày 17/4/2018 kết luận: “Sa sút trí tuệ mức độ nặng. Hiện tại mất năng lực hành vi”. Vì vậy, ông D đã yêu cầu Tòa án nhân huyện Vĩnh Hưng giải quyết tuyên bố bà S mất năng lực hành vi dân sự để gia đình ông thuận tiện trong việc thực hiện các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản nêu trên. Ông D và bà S có các con chung là Phan Thanh L2, Phan Thị Ngọc M, Phan Thị D1, Phan Thị Ngọc L3, Phan Thị H, Phan Thị V; Hiện tại các con ông và cha ruột của bà S là ông Võ Văn L1 cũng có cùng ý kiến của ông D.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Từ khi thụ lý việc dân sự đến thời điểm mở phiên họp thì Thẩm phán, Thư ký và người yêu cầu đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật dân sự và tố tụng dân sự. Về nội dung thì căn cứ vào kết luận giám định pháp y tâm thần số 1826/2018/KLGĐTC ngày 10/5/2018 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố hồ Chí Minh kết luận bà Võ Thị S “Về y học: đương sự bị sa sút tinh thần trong tổn thương não, não úng thủy, mức độ nặng (F02.8-ICD10); Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi” nên có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông D. Vì vậy đề nghị Tòa án áp dụng Điều 369, Điều 370 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 22 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu của ông D.

- Đánh giá chứng cứ: Tại phiên họp ông D vẫn giữ nguyên yêu cầu và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng thống nhất với yêu cầu của ông D và không có ý kiến khác; Đồng thời, kết luận giám định pháp y số 1826/2018/KLGĐTC ngày 10/5/2018 Trung tâm pháp y tâm thần khu vực thành phố hồ Chí Minh đã xác định tình trạng của bà Võ Thị S như sau:

Về y học: Đương sự bị sa sút tinh thần trong tổn thương não, não úng thủy, mức độ nặng (F02.8-ICD10).

Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Từ các phân tích nêu trên và căn cứ vào Điều 22 Bộ luật dân sự quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần” nên Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông Phan Văn D về việc tuyên bố bà Võ Thị S mất năng lực hành vi dân sự; Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Vĩnh Hưng là hoàn toàn có căn cứ.

Về chi phí giám định: Tổng số tiền 4.633.750 đồng, ông D tự nguyện nộp 4.333.750 đồng, ông L2 tự nguyện nộp 300.000 đồng, và đã nộp xong nên Tòa án không đề cập.

Về lệ phí: Do ông D thuộc đối tượng là người cao tuổi và ông D có đơn xin miễn lệ phí nên căn cứ Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì ông D được miễn nộp lệ phí.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27; Khoản 2 Điều 35; Điểm a khoản 2 Điều 39; Khoản 3 Điều 367, Điều 370, Điều 376, Điều 378 Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 22 Bộ luật dân sự; Điều 12, Điều 14, Điều 16 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Chấp nhận đơn yêu cầu của ông Phan Văn D về việc yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với bà Võ Thị S.

Tuyên bố: Bà Võ Thị S mất năng lực hành vi dân sự.

Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Phan Văn D được miễn nộp tiền lệ phí.

Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có mặt tại phiên họp thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ