- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Phan Văn P "Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất" Phan Văn N"
- Tòa quyết gì? Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 140/2017/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết lại vụ án.
- Căn cứ chính? Điều 160 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 01/2018/QĐ-PT | Long An, ngày 25 tháng 01 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Hồ Chí Tâm
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Kim Nga
Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 140/2017/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa đã căn cứ vào các Điều 48, Điều 160, Điều 164, Điều 192, Điều 217, Điều 218, Điều 219 và khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” giữa:
- Nguyên đơn: Ông Phan Văn A, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Số 236, ấp Lộc T, xã Lộc G, huyện Đức Hòa, Long An.
- Bị đơn: Ông Phan Văn N, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Ấp Lộc T, xã Lộc G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Lê Quốc V, sinh năm 1987;
2. Ông Lê Minh T, sinh năm 1990;
Cùng địa chỉ: Số 99, ấp Lộc Hòa, xã Lộc G, huyện Đức Hòa, Long An.
3. Bà Phan Thị H, sinh năm 1953;
Địa chỉ: Ấp An L, xã An H, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
4. Bà Phan Thị Kiều O, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Số 420, ấp Hiệp A, xã Hiệp T, huyện Hòa Thành, Tây Ninh.
5. Ông Phan Minh M, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Ấp Lộc An, xã Lộc G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
6. Bà Phan Thị C, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Số 1, hẻm 1, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, khu phố 3, phường 3, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
7. Bà Phan Thị K, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Ấp An P, xã An H, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
8. Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Tại đơn kháng cáo ngày 24 tháng 10 năm 2017, ông Phan Văn A kháng cáo với lý do quá trình giải quyết vụ án và ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng quy định pháp luật xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông.
XÉT THẤY:
Về quyền khởi kiện vụ án của nguyên đơn:
Ngày 01/11/2013, ông Phan Văn A có đơn khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tổng diện tích 4.582m2 thuộc thửa 328, 344, 586, tờ bản đồ số 14, tọa lạc xã Lộc G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An cấp cho ông Phan Văn N ngày 30/8/2003, xác định đây là di sản của cụ Phan Văn Tr và cụ Nguyễn Thị Đ để lại cho các đồng thừa kế. Đồng thời, yêu cầu hủy bỏ “giấy thỏa thuận gia đình về việc giao quyền sử dụng đất” ngày 05/12/2001. Ông không yêu cầu chia di sản thừa kế trong vụ án này.
Tại bản tự khai ngày 13/12/2013, biên bản lấy lời khai ngày 28/02/2014, ngày 11/6/2014, ngày 04/9/2014, ngày 28/8/2017, biên bản hòa giải ngày 17/4/2014, nguyên đơn ông Phan Văn A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Tại biên bản hòa giải ngày 28/7/2017, phần trình bày của nguyên đơn ông Phan Văn A có nội dung thay đổi yêu cầu khởi kiện so với đơn khởi kiện ngày 01/11/2013, “ông A yêu cầu chia thừa kế cho ông Phan Văn Hùng do ông đại diện nhận quyền sử dụng đất” nhưng ông A không đồng ý với nội dung biên bản hòa giải và không ký tên vào biên bản. Do đó, có cơ sở xác định ông A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 01/11/2013.
Thấy rằng, cụ Phan Văn Tr (chết năm 1977) và cụ Nguyễn Thị Đ (chết năm 2006). Hai cụ có 07 người con chung gồm bà Phan Thị Kim Hương (chết năm 2009), bà Phan Thị Hà, ông Phan Văn Hùng (chết năm 1982), ông Phan Minh Hoàng, bà Phan Thị Cảnh, ông Phan Văn N và bà Phan Thị Hiền. Ông Phan Văn Hùng có vợ và hai người con là Phan Thị Kiều Oanh và Phan Văn A. Cụ Tr và cụ Đ chết không để lại di chúc. Nếu trong trường hợp chia thừa kế theo pháp luật, ông A thuộc hàng thừa kế thứ nhất đối với phần di sản do ông Hùng để lại (phần di sản này lẽ ra ông Hùng nhận được từ cụ Tr do ông Hùng chết sau cụ Tr); đồng thời ông A cũng là thừa kế thế vị đối với phần di sản của cụ Đ (do ông Hùng chết trước cụ Đ). Do đó, ông A có quyền khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Phan Văn N, xác định quyền sử dụng đất tranh chấp là di sản của cụ Phan Văn Tr và cụ Nguyễn Thị Đ; yêu cầu hủy bỏ “giấy thỏa thuận gia đình về việc giao quyền sử dụng đất” ngày 05/12/2001. Tòa cấp sơ thẩm nhận định ông A không có quyền khởi kiện và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng.
Về yêu cầu nguyên đơn nộp chi phí tố tụng:
Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/8/2017 và biên bản hòa giải ngày 28/7/2017, Tòa án có tiến hành lấy lời khai đề nghị ông A nộp chi phí tố tụng nhưng không ấn định thời hạn để ông A thực hiện. Ông A cũng yêu cầu “tôi đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật”, không thể hiện ý chí từ chối thực hiện các yêu cầu của Tòa án. Như vậy, Tòa án đã tuân thủ đúng quy định pháp luật yêu cầu đương sự nộp chi phí tố tụng để đảm bảo việc giải quyết vụ án nhanh chóng, chính xác nhưng do không ấn định thời hạn cụ thể dẫn đến đương sự không biết nên không thể thực hiện theo yêu cầu của Tòa án. Do đó, Tòa án dựa trên căn cứ này để đình chỉ giải quyết vụ án là chưa đủ cơ sở, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của ông A. Tòa án cần thông báo bằng văn bản yêu cầu đương sự nộp chi phí tố tụng. Trong trường hợp hết thời hạn thông báo mà đương sự không nộp và không có lý do chính đáng thuộc trường hợp theo quy định pháp luật thì Tòa án đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Từ những nhận định trên, cần chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn A, hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm, trả hồ sơ về thụ lý, giải quyết lại theo thẩm quyền.
Căn cứ vào điểm c Khoản 5 Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 140/2017/QĐST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện Đức Hòa về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết lại vụ án.
2. Ông Phan Văn A không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Phan Văn A là 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0001568 ngày 24/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu: hồ sơ, án văn. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Hồ Chí Tâm |