vanban.org

Quyết định 01/2017/QĐDS-ST — Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B về "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi".

Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B với anh Nông Văn C. Quyền và nghĩa vụ giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B với anh Nông Văn C chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B với anh Nông Văn C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B về "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi".
  • Căn cứ chính? Điều 25 Luật Nuôi con nuôi; Điều 26 Luật Nuôi con nuôi; Điều 27 Luật Nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2017/QĐDS-ST
Ngày: 30-10-2017
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi
con nuôi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG

Với thành phần giải quyết việc dân sự:

Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Dong - Thẩm phán

Thư ký phiên họp: Bà Mã Thùy Dung - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên họp: Ông Nông Thiện Doanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 01/2017/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2017 về yêu cầu "Chấm dứt việc nuôi con nuôi" theo Quyết định mở phiên họp số: 01/2017/QĐPH-ST ngày 20 tháng 10 năm 2017.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Bà Hoàng Thị A; sinh năm 1961

- Ông Hoàng Quang B; sinh năm 1960

Cùng địa chỉ: Xóm N, xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

Ông Hoàng Quang B ủy quyền cho bà Hoàng Thị A tham gia tố tụng và có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến vụ việc (Theo giấy ủy quyền ngày 24/8/2017).

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nông Văn C; sinh năm: 1984

Địa chỉ: xóm Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng.

3. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: bà Hoàng Thị A và ông Hoàng Quang B yêu cầu Tòa án giải quyết chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với anh Nông Văn C, sinh năm: 1984; địa chỉ: xóm Y, xã Đ, huyện H, tỉnh Cao Bằng

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng nhận định:

Năm 2012 vợ chồng bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B làm thủ tục nhận anh Nông Văn C làm con nuôi, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện H, tỉnh Cao Bằng; được công nhận theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 ngày 05/6/2012 và chuyển hộ khẩu của anh C nhập vào hộ khẩu của gia đình ông B, bà A. Việc nhận nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B và anh Nông Văn C là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc hay mua chuộc, không vụ lợi, không kèm theo yêu cầu trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác. Do đó, có đủ căn cứ xác định việc nhận nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B và anh Nông Văn C là C pháp.

Tại đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp: phía người yêu cầu bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B có đề nghị được chấm dứt việc nuôi con nuôi với anh Nông Văn C. Theo ông B, bà A trong quá trình nhận anh C về nuôi ông B, bà A đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của bố mẹ đối với con nuôi nhưng anh C lại không làm tròn trách nhiệm của một người con đối với cha mẹ. Năm 2013, vợ chồng anh C có vay vợ chồng bà A, ông B một khoản tiền, đến năm 2016 thì xảy ra tranh chấp về hợp đồng vay và đã được Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng giải quyết bằng bản án số 19/2016/DS-PT ngày 28/12/2016. Ngoài ra, trong quá trình chung sống giữa anh C với vợ chồng bà A, ông B có xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau, được anh em trong gia đình và chính quyền hòa giải nhiều lần nhưng mối quan hệ giữa anh C với vợ chồng bà A, ông B vẫn không thể khắc phục được.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn C trình bày: trong quá trình chung sống với ông B, bà A vài năm trở lại đây giữa anh và vợ chồng bà A, ông B có xảy ra nhiều mâu thuẫn. Năm 2015, anh C có làm đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với vợ chồng bà A, ông B tại Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng nhưng sau đó anh đã rút đơn yêu cầu để có thời gian khắc phục lại mối quan hệ giữa bố mẹ và con nuôi. Tuy nhiên, đến nay mối quan hệ này vẫn không thể hàn gắn được, nay ông B bà A có đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi với anh, anh C có ý kiến nhất trí và tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi với bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B.

Do đó, yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B là có căn cứ chấp nhận theo khoản 1 Điều 25, khoản 1 Điều 26 Luật con nuôi.

Tại phiên họp đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng phát biểu ý kiến đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hòa An áp dụng các Điều 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 78 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 25, Điều 26 Luật nuôi con nuôi. Chấp nhận đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông B, bà A.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 25, Khoản 1 Điều 26, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Điều 78 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 29, Điều 370, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 37 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B về "Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi".

2. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B với anh Nông Văn C.

3. Quyền và nghĩa vụ giữa bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B với anh Nông Văn C chấm dứt kể từ ngày Quyết định này có hiệu lực pháp luật.

4. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền lệ phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AB/2012/02181 ngày 09/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa An, Cao Bằng. Nay, xác nhận bà A, ông B đã nộp đủ lệ phí.

5. Người yêu cầu bà Hoàng Thị A, ông Hoàng Quang B; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nông Văn C có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ