vanban.org

Quyết định 01/2017/QĐ-PT — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại số 14/2017/QĐST-KDTM ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Dương.

Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty Cổ phần B phải nộp 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0013248 ngày 07/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Bình Dương. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa"
  • Tòa quyết gì? Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại số 14/2017/QĐST-KDTM ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Dương.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 01/2017/QĐ-PTBình Dương, ngày 01 tháng 11 năm 2017

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên họp: Ông Huỳnh Văn Luật.

Các Thẩm phán:

Bà Trần Thị Nhàn;

Bà Thái Thị Hữu Xuân.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 14/2017/QĐST-KDTM ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Dương,

Tòa án nhân dân thị xã A đã căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa:

- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần B; địa chỉ: Phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Đoan T – Giám đốc.

- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ; địa chỉ: Khu phố E, phường G, thị xã A, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T1 – Giám đốc.

Tại đơn kháng cáo ngày 18/8/2017 của nguyên đơn Công ty Cổ phần B, kháng cáo với lý do Tòa án cấp sơ thẩm chưa xem xét đầy đủ, toàn diện thời hiệu khởi kiện, chưa xem xét vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện.

XÉT THẤY:

Về vấn đề bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án quy định tại Điều 162 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong các trường hợp: Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Bên có nghĩa vụ thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; Các bên đã tự hòa giải với nhau.”

Tại Biên bản đối chất ngày 30/6/2017, đại diện Công ty B xác định ngoài việc trao đổi qua email ngày 21/5/2013 thì không còn chứng cứ nào thể hiện các bên thỏa thuận lại thời hạn thanh toán tiền hoặc Công ty Đ thừa nhận nghĩa vụ thanh toán, giao hàng theo các đơn hàng số 12061 ngày 28/8/2012, đơn hàng 12070 ngày 05/10/2012, đơn hàng 12093 ngày 07/12/2012 và đơn hàng 12096 ngày 28/12/2012. Đồng thời, Công ty B cũng xác định Công ty B biết quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm do Công ty Đ vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo các đơn hàng nêu trên từ năm 2013; Công ty B không bị cản trở bởi lý do khách quan dẫn đến việc không thể khiếu nại hoặc khởi kiện Công ty Đ về việc giao hàng thiếu.

Điều 319 Luật Thương mại năm 2005 quy định thời hiệu khởi kiện đối với các tranh chấp thương mại là hai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.

Thời điểm Công ty B nộp đơn khởi kiện Công ty Đ tại Tòa án nhân dân thị xã A là ngày 01/3/2017.

Từ những phân tích trên, xét thấy thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, Công ty Đ có đơn yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ.

Kháng cáo của Công ty B là không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty B phải nộp theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 148, điểm a khoản 5 Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án kinh doanh, thương mại số 14/2017/QĐST-KDTM ngày 31/7/2017 của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Dương.

2. Án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm: Công ty Cổ phần B phải nộp 2.000.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp tại Biên lai số 0013248 ngày 07/9/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, tỉnh Bình Dương.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.

Cỡ chữ