vanban.org

Bản án — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị H. Chị Vương Thị H được ly hôn anh Đỗ Trọng Đ.

Về con chung: 02 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Giao chị Vương Thị H trực tiếp nuôi cháu Đỗ Trà M. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ cho đến khi các bên có yêu cầu mới. Anh Đ cóquyền,nghĩa vụthăm nom c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn giữa anh Đ và chị H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị H. Chị Vương Thị H được ly hôn anh Đỗ Trọng Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:......39..../2021/HNGĐ-ST
Ngày: 20/12/2021
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Ngọc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Huy Dương

2. Bà Nguyễn Thị Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Doãn Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, TP. Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức- Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 186/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 10 năm 2021 về tranh chấp Ly hôn, người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXX-ST ngày 29 tháng 11 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2021/QĐST-TA ngày 15 tháng 12 năm 2021giữacácđương sự:

Nguyênđơn:Chị VươngThị H, sinh năm 1982

Bị đơn: Anh Đỗ TrọngĐ, sinhnăm 1979

Đều ĐKHKTT: Ngõ 98A H, phường X, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn là chị Vương Thị H trình bày: ChịkếthônvớianhĐỗ Trọng Đ cóđăngkýkếthôntại UBND phườngXuân Khanh,thịxã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, anh Đ hay ghen tuông và đánh chửi chị. Tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt và mâu thuẫn trầm trọng hơn. Đến khi quá mức chịu đựng của chị, chị đã ra khỏi nhà chồng từ tháng 9/2019 đến nay. Hiện nay, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được. Anh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến để giải quyết việc ly hôn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị. Vì vậy, chị Đào đề nghị Tòa án giải quyếttheoquy địnhcủaphápluậtcho chịđượcly hônvới anh Đ

Vềconchung: 02conchung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cháu My và khôngđềnghị anh Đ cấpdưỡngnuôicon;

Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp đối với gia đình: Không có.

Trong quá trình tố tụng để giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thông báo, triệu tập, tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Đỗ Trọng Đ nhiều lần, nhưng anh Đ đã không đến Tòa án. Tại biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh Đ sinh sống cung cấp: Chị Vương Thị H và anh Đỗ Trọng Đ có đăng ký kết hôn tại UBND phường Xuân Khanh, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Về mâu thuẫn thì chị H và anh Đ sống chung cũng có mâu thuẫn hay không địa phương không nắm được. Hiện nay, chị H không còn sinh sống ở địa phương. Về con chung: 02 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Việc chị H xin ly hôn anh Đ thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án hòa giải. Nếu chị H kiên quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý vụ án đúng quy định của pháp luật. Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng dân sự: Giao thông báo thụ lý vụ án, lấy lời khai của đương sự, hòa giải, xác minh các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật. Đương sự thực hiện đúng quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật. Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử: Chị Vương Thị H được ly hôn anh Đỗ Trọng Đ. Về con chung: 02 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Giao chị Vương Thị H nuôi cháu My, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ cho đến khi các bên có yêu cầu mới. Về tài sản chung, nợ chung: Đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết do không có lời khai của anh Đỗ Trọng Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về pháp luật tố tụng: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng việc giao các văn bản tố tụng với đương sự. Thực hiện việc thông báo phiên họp tiếp cận, kiểm tra, công khai chứng cứ nhưng anh Đ vắng mặt, chị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Tòa án mở phiên tòa ngày 15/12/2021, chị H có đơn xin xét xử vắng, anh Đ vắng mặt không có lý do. Tòa án hoãn phiên tòa ấn định ngày xét xử là ngày 20/12/2021 và thực hiện thông báo, tống đạt quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa cho anh Đ Tại phiên tòa anh Đ tiếp tục vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Vương Thị H và anh Đỗ Trọng Đ kết hôn tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và thủ tục về kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, do đó quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ là hợp pháp. Mâu thuẫn vợ chồng là có thật, nguyên nhân được xác định là do anh Đ và chị H không hợp nhau, không cùng quan điểm sống. Anh Đ hay ghen tuông và đánh chửi chị Hường. Do đó, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa chị H và anh Đ là trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị H và anh Đ sống ly thân từ tháng 9/2019 đến nay. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hường.

Về con chung: 02 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Cháu Tuấn Anh đã trưởng thành, khỏe mạnh nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng. Để thuận lợi cho môi trường học tập của cháu My nên Hội đồng xét xử giao chị H trựctiếpnuôicháu. Chị H khôngđềnghịanhĐ cấpdưỡngnuôiconnên Hộiđồngxétxử không xem xét;

Về tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có, anh Đ không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về công sức đóng góp: Không có

Về án phí: Chị Vương Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Áp dụng khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành theo Nghị quyết.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vương Thị H. Chị Vương Thị H được ly hôn anh Đỗ Trọng Đ.

2. Về con chung: 02 con chung là Đỗ Tuấn A, sinh ngày 27/9/2001 (đã trưởng thành, khỏe mạnh) và Đỗ Trà M, sinh ngày 12/8/2007. Giao chị Vương Thị H trực tiếp nuôi cháu Đỗ Trà M. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Đ cho đến khi các bên có yêu cầu mới.

Anh Đ cóquyền,nghĩa vụthăm nom con mà khôngaiđượccảntrở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về công sức đóng góp: Không có.

5. Về án phí: Chị Vương Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị H đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0056129 ngày 22/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Vương Thị H , anh Đỗ Trọng Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Thành viên Hội đồng xét xử

Cỡ chữ