vanban.org

Bản án

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo L.M, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại theo giám định là 0,14833 gam, loại Methamphetamine. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo L.M, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: /2021/HS-ST
Ngày 03/12/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Ngọc

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tuấn Kiệt

2. Bà Lê Thị Cẩm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Hà Quốc Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2021/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:

L.M (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/2000 tại Sóc Trăng.

Nơi cư trú: Ấp L H, xã L H, thị xã V1, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Nuôi tôm; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý C.T, sinh năm: 1964 và bà Dương T.S, sinh năm: 1970; anh chị em ruột có 08 người, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 07/8/2021, đến ngày 10/8/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo L.M: Bà Trịnh Hồng Như, sinh năm 1986 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 07/8/2021, L.M điều khiển xe mô tô hiệu Wave, biển kiểm soát 94H4-9513, đến quán bida gần phường Vĩnh Phước, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, gặp người tên L (không rõ nhân thân), mua 02 bịch ma tuý với giá 300.000 đồng và để 02 bịch ma tuý vào bóp da trong túi quần bên trái. Sau đó L.M chạy xe về nhà người quen ở xã L.H, thị xã V.C, tỉnh Sóc Trăng, rồi đi bộ đến tiệm tạp hoá ở ấp B1 xã V1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mua đồ. Khoảng 16 giờ cùng ngày, L.M đi bộ quay lại nơi để xe mô tô, đi ngang Chốt phụ số 01 phòng, chống dịch Covid 19 thuộc ấp B1, xã V1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu thì bị Công an thành phố Bạc Liêu, kết hợp với lực lượng chức năng đang làm nhiệm vụ tại chốt kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ 02 bịch nylon màu trắng có cùng kích thước 01cm x 2,5cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và các tài sản, đồ vật có liên quan.

- Tại Bản Kết luận giám định số 111/KLGĐ-PC09 ngày 10/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu xác định: Chất rắn màu trắng, dạng tinh thể, bên trong 02 gói nylon màu trắng có cùng kích thước 01cm x 2,5cm là chất ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,18671 gam.

Cáo trạng số 114/CT-VKSTPBL ngày 16 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo L.M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo L.M và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo L.M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L.M từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

+ Đối với người thanh niên tên Lập đã bán ma túy cho L.M, do không xác định được nhân thân lai lịch nên không làm việc được.

+ Đối với vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,14833 gam. Các đồ vật, tài sản khác xét thấy không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu.

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo L.M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác trong trong vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các yếu tố: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được đi học, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bản thân bị cáo chưa từng có tiền án, tiền sự để xem xét giải nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Bị cáo L.M thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo L.M tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ chứng minh: Vào lúc 13 giờ, ngày 07 tháng 8 năm 2021, tại chốt phụ số 01 phòng chống dịch Covid-19 thuộc ấp B1, xã V1 thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo L.M đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine với khối lượng là 0,18671 gam, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy bị cáo L.M là thanh niên có sức khỏe, nhưng không lo chí thú làm ăn mà lại sa vào con đường nghiện hút ma túy, dẫn đến phạm tội. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục để bị cáo có cơ hội sửa đổi và trở thành một công dân tốt, đồng thời nhằm mục đích răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng, không có tính chất vụ lợi, nên khi áp dụng hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ trog hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, không vì mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Bạc Liêu về tội danh, hình phạt và các nội dung khác đối với bị cáo là phù hợp nên chấp nhận toàn bộ.

Đối với người thanh niên tên Lập bán ma túy cho bị cáo L.M, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không làm việc được.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bạc Liêu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo L.M không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là đúng quy định.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với số ma túy 0,14833 gam, loại Methamphetamine còn lại sau giám định là chất ma túy, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo L.M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo L.M, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo L.M 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 07/8/2021.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c, khoản 1, Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu tiêu hủy:

Số ma túy còn lại theo giám định là 0,14833 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bạc Liêu và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo L.M phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ