- Tranh chấp gì? "Mùa A Tênh phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B¶n ¸n sè: 13/2018/HS-ST Ngµy : 27-6-2018. |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà : Bà Nguyễn Thị Hải
Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Đạo
Bà Nguyễn Thị Mai Thu
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thu Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện T
- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: Ông Lương Minh Trí, Kiểm sát viên
Ngày 27 tháng 6 năm 2018 tại Nhà văn hoá xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2018/TLST-HS ngày 11-6-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo :
Họ và tên: Mùa A T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 15/10/1998 tại huyện T, tỉnh Yên Bái; ĐKNKTT và nơi ở hiện nay: thôn H, xã H, huyện T, tình Yên Bái; dân tộc: H’Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: trồng trọt; con ông: Mùa A C (đã chết) và con bà: Hờ Thị N sinh năm 1954 hiện trú tại: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; có vợ: Hờ Thị C sinh năm 1998; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2015 đều trú tại thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại trại tạm giam Công an tỉnh Yên Bái đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người làm chứng:
1. Anh Trần Hồng L sinh năm 1986 Địa chỉ: Thôn 2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
2.Anh Nông Văn L Địa chỉ: Thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái.Vắng mặt
3.Anh Hà Minh T sinh năm 1982 Địa chỉ: Bản C, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.Vắng mặt
4.Ông Tráng A P sinh năm 1976 Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
5. Ông Tráng A V sinh năm 1966 Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
6. Anh Nguyễn Quốc T sinh năm 1982 Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
Người chứng kiến: Anh Sùng A L Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 25/01/2018 tại nhà của Mùa A T ở thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, Đội CSĐTTP về HS-KT-MT Công an huyện T, Yên Bái đã phát hiện bắt quả tang Mùa A T sinh năm 1998 đang có hành vi bán trái phép chất ma túy (Thuốc phiện) cho Trần Hồng L sinh năm 1986, trú tại: Thôn 2, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái, vật chứng thu giữ tại chỗ gồm:
Thu giữ tại nền nhà của Mùa A T 02 (Hai) kẹp ni lon màu trắng được gấp làm đôi, bên trong mỗi kẹp ni lon đều chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen. Thu giữ tại túi áo bên phải của T 01 (Một) túi ni lon (loại vỏ gói mì tôm ba miền), bên trong có 01 (Một) gói ni lon màu hồng, trong gói ni lon màu hồng có 02 (Hai) kẹp ni lon màu trắng được gấp làm đôi trong mỗi kẹp ni lon đều chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen (T khai là thuốc phiện). Thu giữ tại túi quần bên phải của Mùa A T 800.000đ (Tám năm nghìn đồng) tiền có chữ ngân hàng nhà nước Việt Nam.
Quá trình bắt quả tang, cơ quan điều tra tạm giữ một (01) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu đen, đã cũ của Mùa A T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung màu xanh của Trần Hồng L; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, đã cũ của Nông Văn L (L là người đi cùng với L đến nhà T để mua thuốc phiện).
Quá trình điều tra Mùa A T, Trần Hồng L và Nông Văn L khai nhận: Khoảng 14 giờ, ngày 25/01/2018 Trần Hồng L gọi điện thoại cho Mùa A T hỏi mua thuốc phiện T đồng ý, trên đường lên nhà Mùa A T thì Trần Hồng L gặp Nông Văn L và rủ Nông Văn L đi lên bản người Mông chơi (Trần Hồng L không nói cho Nông Văn L biết mục đích thật sự của mình). Khi L và L đến nhà Mùa A T, lúc này T đang đứng ở cửa, L đi vào đưa cho T 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) để mua thuốc phiện, T cầm tiền cất vào túi quần bên phải đồng thời T bảo L vào trong nhà để đưa thuốc phiện, khi T vừa cho tay vào túi áo để lấy thuốc phiện đưa cho L thì bị phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng.
Ngoài hành vi bán ma túy (Thuốc phiện) cho Trần Hồng L ở trên Mùa A T tự khai nhận trước đó còn nhiều lần bán thuốc phiện cho nhiều người khác tại nhà mình, cụ thể:
* Trong tháng 10 năm 2017, đã 03 (Ba) lần bán thuốc phiện cho Hà Minh T SN: 1982, trú tại: Bản C, xã H, huyện T, tinh Yên Bái.
Lần thứ nhất: Đầu tháng 10/2017 bán cho Thìn 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng
Lần thứ 2: Khoảng giữa tháng 10/2017 bán 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Lần thứ 3: Khoảng cuối tháng 10/2017 bán 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
*Tháng 11/2017 và tháng 01/2018 Mùa A T đã 03 (Ba) lần bán thuốc phiện cho Tráng A P SN: 1978, trú tại: thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Lần thứ nhất: Tháng 11/2017 bán cho Tráng A P 01 (một) kẹp thuốc phiện với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
Lần thứ 2: Cách thời điểm mua lần thứ nhất một tuần, bán tiếp cho P 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Lần thứ 3: Trong tháng 01/2018, bán cho P 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
*Tháng 11/2017, Mùa A T đã 02 (Hai) lần bán thuốc phiện cho Tráng A V SN: 1966 (tên gọi khác là Tráng Tráng V), trú tại: Thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái.
Lần thứ nhất: Đầu tháng 11/2017 bán cho V 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giả 35.000đ (ba mươi lăm nghìn đồng).
Lần thứ 2: Cuối tháng 11/2017 bán tiếp cho V 01 (Một) kẹp thuốc phiện với giá 47.000đ (Bốn mươi bảy nghìn đồng).
*Tháng 11/2017, Mùa A T bán 01 (Một) lần thuốc phiện cho Nguyễn Quốc T - SN: 1982, trú tại: Thôn T, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
Tại bản Kết luận giám định số: 53/GĐMT ngày 03 tháng 02 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận:
1- Chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ khi bắt quả tang tại thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái có tổng trọng lượng là: 4,1 gam (Bốn phẩy một gam); 2 gam trích từ 4,1 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen gửi giám định là ma túy; là thuốc phiện.
2- Chất nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ của Mùa A T có tổng trọng lượng là 7,1 gam (Bẩy phẩy một gam); 2,9 gam trích từ 7,1 gam chất nhựa dẻo màu nâu đen gửi giám định là ma túy; là thuốc phiện. (BL: 23)
Tại bản Kết luận giám định số: 62/KLGĐ ngày 30 tháng 01 năm 2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái, kết luận: Toàn bộ số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) gửi giám định đều là tiền do Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành.
Tại bản cáo trạng số: 14/CT-VKSTY ngày 08-6-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Mùa A T về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá các căn cứ buộc tội và đánh giá về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
1. Về hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Mùa A T từ 08(tám) năm đến 08 năm 06(sáu)tháng tù, thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 25-01-2018, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
2. Xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đ.
- Truy thu 1082.000đ nộp ngân sách nhà nước.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 Một (01) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu đen, viền xanh, bàn phím nổi màu trắng, điện thoại đã cũ và đã qua sử dụng.
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) túi nilon loại vỏ mì tôm ba miền; 01 (một) mảnh nilon màu hồng; 6,3 gam (Sáu phảy ba gam) thuốc phiện còn lại sau khi đã trích để lấy mẫu giám định được niêm phong trong 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành.
3. Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo bị truy tố:
Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt quả tang, kết luận giám định về ma tuý, thời gian địa điểm xảy ra vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018, tại nhà riêng của bị cáo thuộc thôn H, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái , bị cáo đã chín lần bán trái phép thuốc phiện cho Hà Minh T, Tráng A P, Tráng A V, Nguyễn Quốc T thu lời bất chính 1.082.000đ (Một triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng). Đến ngày 25/01/2018, cũng tại địa điểm nêu trên, bị cáo bán cho Trần Hồng L 02 (Hai) kẹp thuốc phiện có trọng lượng 4,1 gam với giá 800.000đ thì bị công an bắt quả tang cùng vật chứng. Ngoài ra bị cáo còn cất giấu 02 (Hai) kẹp thuốc phiện trong túi áo bên phải mình có trọng lượng 7,1gam (Bảy phẩy một gam), mục đích để dùng cho bản thân và bán cho những người nghiện để kiếm lời. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi mua ma tuý về sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời là vi phạm pháp luật. Nhưng do bị cáo là người nghiện chất ma tuý và do lợi nhuận của ma tuý nên bị cáo cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của Mùa A T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo 10 lần bán ma tuý(thuốc phiện) cho 05 người vào nhiều thời gian khác nhau, nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251của Bộ luật Hình sự với khung hình phạt từ 07 năm đến 15 năm.
Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo có tính chất rất nghiêm trọng và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn. Đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất ma tuý. Trực tiếp làm gia tăng tệ nạn xã hội, trực tiếp gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ, kinh tế của chính bị cáo, gia đình bị cáo và cả cộng đồng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, hành vi này phải được xét xử nghiêm minh. Viện kiểm sát truy tố Mùa A T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
-Tình tiết giảm nhẹ trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo đã tự giác khai báo 09 lần bán ma tuý trước đó chưa bị phát hiện nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên bị cáo Mùa A T thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo (Giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 86/GCN-HN-HCN) vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) túi nilon loại vỏ mì tôm ba miền; 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 6,3 gam(thuốc phiện) do cơ quan giám định hoàn lại được niêm phong trong phong bì thư do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành.
- Tịch thu xung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đồng do bán ma tuý mà có; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu đen, viền xanh, bàn phím nổi màu trắng, điện thoại đã cũ sử dụng vào việc mua bán chất ma tuý.
- Truy thu số tiền 1.082.000đồng do phạm tội mà có nộp ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với Trần Hồng L, Hà Minh T, Tráng A P, Tráng A V, Nguyễn Quốc T là những người nghiện ma túy, mục đích mua thuốc phiện của Mùa A T về để sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích bán bán lại để kiếm lời. Do đó Cơ quan điều tra - Công an ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này là phù hợp.
Đối với Nông Văn L – Trú tại thôn K, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái là người được Trần Hồng L rủ cùng đi vào nhà Mùa A T ngày 25/01/2018 và bị bắt cùng T, L. Quá trình điều tra xác định Nông Văn L khi đi cùng L, L không biết việc L đi mua thuốc phiện và L không nói cho L biết. Do đó Nông Văn L không có hành vi vi phạm pháp luật, không xử lý là phù hợp
Về nguồn gốc của thuốc phiện: Mùa A T khai tối 24/01/2018 T đã mua của một người phụ nữ dân tộc H’Mông, ở khu vực C, huyện V, tỉnh Yên Bái, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố luận tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, án phí và quyền kháng cáo là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và phù hợp pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
1. Tuyên bố bị cáo Mùa A T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt : Tuyên phạt Mùa A T 08(Tám) năm tù, thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 25-01-2018.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đồng(Tám trăm nghìn đồng).
-Tịch thu cho phát mại điện thoại di động nhãn hiệu KECHAODA, màu đen, viền xanh, bàn phím nổi màu trắng, điện thoại đã cũ sung công quỹ.
- Truy thu số tiền 1.082.000đ(Một triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) túi nilon loại vỏ mì tôm ba miền; 01 (một) mảnh nilon màu hồng, 6,3 gam(thuốc phiện) do cơ quan giám định hoàn lại được niêm phong trong phong bì thư do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành
(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13-6-2018)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/QH14 buộc bị cáo phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -TAND tỉnh(1)
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà -VKSND tỉnh(1) -VKSND huyện(1) -THADS(1),THAPT(1)
Đã ký -Công an(1), STP (1) -Bị cáo(1),
- Trại tạm giam(1) -Lưu hồ sơ(1), tập án ( 1).
Nguyễn Thị Hải
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Hải
| Nơi nhận: -TAND tỉnh -VKSND huyện -THADS -THAPT -Công an huyện -Bị cáo -Bị hại -Lưu hồ sơ | TM/ Hội Đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn thị Hải |