vanban.org

Bản án 996/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hoàng Minh H. Giấy chứng nhận kết hôn số R, quyển số Y, do Ủy ban nhân dân phường Y, Quận G, Thành phố H cấp ngày T/Y/U không còn hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Hoàng Minh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂNDÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 996/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 11 - 7 - 2022
V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Thanh Nhàn

2. Ông Mai Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022 tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 835/2021/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2021 về “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 167/2022/QĐST-HNGĐ ngày 17/6/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm X. Địa chỉ: Hẻm A, Đường số E, tổ 6, ấp 5, xã B, huyện C, Thành phố H. (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Hoàng Minh H, sinh năm Y. Địa chỉ: Số U đường P, Phường Y, quận G, Thành phố H. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/11/2021, bản tự khai cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Hoàng Minh H chung sống với nhau từ ngày T/Y/U, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Y, Quận G, Thành phố H cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc, cho đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Hoàng Minh H không chăm lo gia đình, bỏ bê vợ con, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình, dẫn đễn vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Hoàng Minh H vẫn không thay đổi. Nay bà muốn yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Minh H để ổn định cuộc sống riêng.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Hoàng Minh N, sinh ngày X/Y/Z và Hoàng Minh , sinh ngày G/H/J. Theo đơn khởi kiện bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông Hoàng Minh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/con cho đến khi các con lần lượt đủ 18 tuổi. Nhưng quá trình giải quyết vụ án bà đã rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nay bà chỉ yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu ông Hoàng Minh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

Bị đơn ông Hoàng Minh H vắng mặt không lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, do bị đơn vắng mặt không tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên toà sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị H yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Minh H nên quan hệ giải quyết trong vụ án là tranh chấp ly hôn, ông Hoàng Minh H hiện đang cư ngụ tại quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Hoàng Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng Minh H.

. Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp được pháp luật công nhận theo giấy chứng nhận kết hôn số R, quyển số Y, do Ủy ban nhân dân phường Y, Quận G, Thành phố H cấp ngày T/Y/U.

Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng có nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc nhau. Bà Nguyễn Thị H trình bày giữa bà và ông Hoàng Minh H xảy ra mâu thuẫn do ông Hoàng Minh H không chăm lo gia đình, bỏ bê vợ con, không cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Bà đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông Hoàng Minh H vẫn không thay đổi. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Về phía ông Hoàng Minh H đã được Tòa án triệu tập tham gia các phiên hòa giải nhằm tạo điều kiện cho bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H hàn gắn đoàn tụ, cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng ông Hoàng Minh H vẫn không có mặt thể hiện ông Hoàng Minh H không có thiện chí giải quyết những mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H.

Căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H, Hội liên hiệp phụ nữ Phường Y, quận G, Thành phố H xác nhận: bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H có từng chung sống với nhau tại số nhà U đường P, Phường Y, quận G. Trong quá trình chung sống bà H và ông H có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H có chơi cờ bạc. Bà H và ông H ly thân từ năm 2020 cho đến nay.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Hoàng Minh H là có thật, đã trầm trọng, tình cảm không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị H theo quy định tại Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Có 02 con chung tên là Hoàng Minh N, sinh ngày X/Y/Z và Hoàng Minh P, sinh ngày G/H/J.

Theo bản tự khai đề ngày 27/12/2021 của trẻ Hoàng Minh N và trẻ Hoàng Minh P thể hiện nguyện vọng của hai trẻ là được chung sống với bà Nguyễn Thị H.

Hiện nay bà Nguyễn Thị H đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con chung và bà Nguyễn Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Hoàng Minh H cấp dưỡng nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị H, giao cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Hoàng Minh N, sinh ngày X/Y/Z và Hoàng Minh P, sinh ngày G/H/J cho đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Hoàng Minh H cho đến khi có yêu cầu.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật phí, lệ phí và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 51, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H được ly hôn với ông Hoàng Minh H.

Giấy chứng nhận kết hôn số R, quyển số Y, do Ủy ban nhân dân phường Y, Quận G, Thành phố H cấp ngày T/Y/U không còn hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao trẻ Hoàng Minh N, sinh ngày X/Y/Z; Hoàng Minh P, sinh ngày G/H/J cho bà Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các trẻ lần lượt đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Hoàng Minh H cho đến khi có yêu cầu.

Ông Hoàng Minh H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì quyền lợi con chung, khi cần thiết các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng do bà Nguyễn Thị H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0047162 ngày 19/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Hoàng Minh H vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ