- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MIN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 993/2022/HNGĐ-ST Ngày: 25/10/2022 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Chiến.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Huy Hoàng.
2. Bà Phan Thị Dòn .
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hậu- Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 10 năm 2022, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 191/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022. Về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 398/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27/9/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thùy Dươ, sinh năm 1986.
Địa chỉ: 214 tổ 4, khóm Phú Bình, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có đon xin giải quyết vắng mặt).
Bị đơn: Ông Trần Quang Vi, sinh năm 1978.
Địa chỉ:E31/66 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện; bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, bà Lê Thùy Dươ trình bày:
Bà Lê Thùy Dươ và ông Trần Quang Vi tự nguyện kết hôn vào năm 2007; theo giấy chứng nhận kết hôn số 40; quyển số 01/2007, ngày 29/3/2007 do Ủy ban nhân phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp.
Thời gian đầu sống chung hạnh phúc và có 02 con chung tên là Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007 và Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015. Sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được; nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống; cả hai đã không còn quan tâm chăm sóc nhau từ lâu.
Nay nhận thấy mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt nên bà Dương yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Vinh MAÃU 52/NQ01/2017
Về con chung: có 02 con chung tên là Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007 và Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015. Bà Dương yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015; ông Trần Quang Vi nuôi trẻ Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007
Về cấp dưỡng nuôi con: bà Dương không cấp dưỡng nuôi con và bà Dương không yêu cầu ông Vinh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra không có yêu cầu gì khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Trần Quang Vi vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án và cũng không tham dự phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng, tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên việc giải quyết vụ án vẫn còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1].Bà Lê Thùy Dươ khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Trần Quang Vi; Ông Vinh có nơi cư trú tại huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
.Về sự vắng mặt của bị đơn ông Trần Quang Vi, Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng ông Vinh vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án; bà Lê Thùy Dươ có đơn xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Dương và ông Vinh theo quy định tại Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về Nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển 01/2007, ngày 29/3/2007 do Ủy ban nhân phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thùy Dươ và ông Trần Quang Vi là hôn nhân hợp pháp được qui định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. MAÃU 52/NQ01/2017
Xét quá trình giải quyết vụ án, bà Lê Thùy Dươ xác nhận là đời sống chung giữa bà và ông Vinh có nhiều mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không còn hòa hợp và không ai còn quan tâm chăm sóc nhau từ lâu.
Tại kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có nội dung “Tình trạng hôn nhân của bà Lê Thùy Dươ và ông Trần Quang Vi, trong quá trình sống chung có phát sinh mâu thuẫn hay không thì Ủy ban nhân dân xã không nắm rõ”. Tuy nhiên, qua lời trình bày của bà Dương và thực tế cả hai đã sống ly thân và từ lâu không ai còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau thì có cơ sở xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Dương và ông Vinh là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà Lê Thùy Dươ yêu cầu ly hôn với ông Trần Quang Vi là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thùy Dươ .
Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007 và Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015. Bà Dương yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015; ông Trần Quang Vi nuôi trẻ Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007
Xét yêu cầu của bà Dương là phù hợp, bởi lẽ kể từ trẻ Tuấn được sinh ra thì bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và hiện tại trẻ Tuấn đang ở với bà Dương; Mặt khác, tại biên bản ghi nhận ý kiến trẻ thì trẻ Thái mong muốn được sống với cha, đồng thời cần sự ổn định về tâm sinh lý của các trẻ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Dương.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Lê Thùy Dươ không yêu cầu ông Trần Quang Vi cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Vinh và bà Dương.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Dương khai là tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng ông Vinh vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung, nợ chung. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết vấn đề tài sản chung, nợ chung theo chứng cứ và yêu cầu của bà Dương. Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
Ông Trần Quang Vi đã được Tòa án triệu tập đến để ghi nhận ý kiến, tiến hành thủ tục giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như việc tham gia phiên tòa xét xử giải quyết vụ án với nguyên đơn nhưng ông vẫn vắng mặt. Vì vậy, ông đã tự từ bỏ quyền được chứng minh của mình, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày cũng như chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án.
Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lê Thùy Dươ phải chịu án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: MAÃU 52/NQ01/2017
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 6; Điều 91, 96 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thùy Dươ đối với ông Trần Quang Vi.
Bà Lê Thùy Dươ được ly hôn với ông Trần Quang Vi. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thùy Dươ và ông Trần Quang Vi chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển 01/2007, ngày 29/3/2007 do Ủy ban nhân phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao trẻ Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007 cho ông Trần Quang Vi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao trẻ Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015 cho bà Dương trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Vinh và bà Dương.
Ông Trần Quang Vi và bà Lê Thùy Dươ có quyền tới lui thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này.
3.Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết; Riêng ông Vinh vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung, nợ chung.Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
4.Về án phí: Bà Lê Thùy Dươ chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0040618 ngày 22/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dương đã nộp đủ án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định.
| Nơi nhận: - Các đương sự (4); - VKSND H. Bình Chánh (2); - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1); - Cơ quan nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn (1); - Lưu hồ sơ vụ án (4). MAÃU 52/NQ01/2017 TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN *** Vào hồi dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Chiến. Các Hội thẩm nhân dân: - - HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2022. Về việc “Tranh chấp ly hôn” giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Lê Thùy Dươ, sinh năm 1986. tỉnh Đồng Tháp. Bị đơn: Ông Trần Quang Vi, sinh năm 1978. Minh. (vắng mặt). Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Căn cứ vào: Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. năm 2014; Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Biểu quyết: Tuyên xử: với ông Trần Quang Vi. bà Lê Thùy Dươ và ông Trần Quang Vi chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số số 40, quyển 01/2007, ngày 29/3/2007 do Ủy ban nhân phường Bình Trị Đông B, Quận Bình Tân, Thành Phố Hồ Chí Minh cấp không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Quang Vi trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao trẻ Trần Nhật Anh Tuấn, sinh ngày 15/10/2015 cho bà Dương trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông Vinh và bà Dương. MAÃU 52/NQ01/2017 con chung không ai có quyền ngăn cản. Vì lợi ích con chung khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này. quyết; Riêng ông Vinh vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung, nợ chung.Trường hợp các đương sự có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác. sự sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0040618 ngày 22/02/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Dương đã nộp đủ án phí. trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định. Nghị án kết thúc vào hồi....... giờ....... phút, ngày....... tháng....... năm 2022. Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân MAÃU 52/NQ01/2017 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Chiến CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc giờ phút ngày tháng năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân Tiến hành nghị án vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 191/2022/TLST- Địa chỉ: 214 tổ 4, khóm Phú Bình, thị trấn Cái Tàu Hạ, huyện Châu Thành, Địa chỉ:E31/66 ấp 5, xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban /3 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thùy Dươ đối Bà Lê Thùy Dươ được ly hôn với ông Trần Quang Vi. Quan hệ hôn nhân giữa 2. Về con chung: Giao trẻ Trần Nhật Thái, sinh ngày 21/7/2007 cho ông Trần Ông Trần Quang Vi và bà Lê Thùy Dươ có quyền tới lui thăm nom chăm sóc 3.Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải 4.Về án phí: Bà Lê Thùy Dươ chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân 5.Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án Biểu quyết: /3 Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |