- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Luật thi hành án dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 993/2017/HNGĐ-ST Ngày: 25/8/2017 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa : Bà Trần Thị Thúy Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Danh Cư
Bà Thái Thục Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Thư ký Tòa án.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Kim Sinh – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 881/2016/TLST-HNGĐ ngày 12/10/2016 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2017/QĐXXST - HNGĐ ngày 19/7/2017 và quyết định hoãn phiên tòa số 99/2017/QĐST-HNGĐ ngày 07/8/2017 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Đội 4, xã C, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
(có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: 441/7A Đường H, Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nộp ngày 02/8/2016, biên bản tự khai ngày 21/11/2016 cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ bà Lê Thị N trình bày:
Bà N và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh là do ông T đi làm nhưng không phụ tiền để bà N nuôi con ăn học mà còn lấy tiền của bà N nhiều lần, nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Bà N đã nhiều lần khuyên ông T cố gắng phụ bà để cùng nuôi con nhưng ông T không thay đổi, sau đó ông T tự ý bỏ đi từ tháng 11/2012 đến nay nên vợ chồng cũng ly thân từ đó. Do tình cảm vợ chồng không còn, gia đình sống không có hạnh phúc nên bà N yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Trong thời gian chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Lê Ti N sinh ngày 25/3/2008, bà N có yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà N xác định vợ chồng không có tài sản chung.
Về nợ chung: Bà N tự khai không thiếu nợ gì của ai.
Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn T vắng mặt nên Tòa án không thu được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8: Bà Ngô Thị Kim Sinh phát biểu: Thẩm phán đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn do mâu thuẫn vợ chồng quá trầm trọng không thể hàn gắn, giao con chung là trẻ Nguyễn Lê Ti N sinh ngày 25/3/2008 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông T cho đến khi bà N có yêu cầu, tài sản chung và nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Toà án:
Bà Lê Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với ông Nguyễn Tấn T nên đây là tranh chấp hôn nhân gia đình, do bị đơn có nơi cư trú tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Tấn T nhiều lần để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông T đều vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định tại các Điều 171, 172, 173, 174, 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng ông T đều vắng mặt tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
Ngày 16/8/2017 bà Lê Thị N có Đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa xét xử vụ án ly hôn giữa bà và ông Nguyễn Tấn T. Do bà N đi làm không xin nghỉ được nên không thể đến tham gia phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn.
Do đó Hội đồng xét xử áp dụng thủ tục xét xử vắng mặt tất cả nhưng người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Xét thấy, bà Lê Thị N và ông Nguyễn Tấn T chung sống với nhau năm 2007, có đăng ký kết hôn số 181 quyển số 01/2007 ngày 06/9/2007 tại Ủy ban nhân dân Phường C, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, nay bà N yêu cầu được ly hôn là có căn cứ cần chấp nhận giải quyết vì phù hợp với khoản 1 Điều 51 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Tại đơn khởi kiện và biên bản tự khai ngày 21/11/2016 bà N yêu cầu được ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn gia đình phát sinh là do bất đồng quan điểm sống, cách sống khác biệt, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt và cách suy nghĩ trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn gia đình phát sinh do lỗi của ông T không có sự quan tâm chăm sóc vợ con, không phụ bà N nuôi con, bà N đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông T vẫn không thay đổi, còn tự ý bỏ nhà đi nên mâu thuẫn vợ chồng phát sinh càng trầm trọng không hàn gắn được. Vợ chồng ly thân thời gian dài nên làm tình cảm vợ chồng cũng không còn. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa để lấy lời khai và hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình không đến Tòa để hòa giải, chứng tỏ ông T không còn tha thiết muốn duy trì mối quan hệ hôn nhân với bà N, vì vậy yêu cầu của bà N là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét về con chung: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Tấn T có một con chung tên Nguyễn Lê Ti N sinh ngày 25/3/2008. Theo bản tự khai ngày 04/4/2017 cháu Nguyễn Lê Ti N có nguyện vọng muốn được ở với mẹ. Hội đồng xét xử nhận thấy để đảm bảo lợi ích, điều kiện sống, sinh hoạt ổn định và nguyện vọng của con chung, xét việc yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con của bà N là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên có căn cứ cần chấp nhận.
Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Xét về tài sản chung: Bà N tự khai không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về nợ chung: Bà N tự khai xác nhận không thiếu nợ ai nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Luật phí, lệ phí ngày và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì Bà Nphải chịu toàn bộ án phí là 200.000 đồng.
Ông Nguyễn Tấn T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 171, 172, 173, 174, 177, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:
- Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí, lệ phí ;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
1. Tuyên xử vắng mặt đối với bị đơn ông Nguyễn Tấn T.
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị N ly hôn ông Nguyễn Tấn T.
Về con chung: Bà Lê Thị N và ông Nguyễn Tấn T có một con chung tên Nguyễn Lê Ti N sinh ngày 25/3/2008. Giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho ông T cho đến khi bà N có yêu cầu.
Ông T được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Vì lợi ích của trẻ theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, hoặc những người theo quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà N tự khai không có tài sản chung nên Tòa không xem xét.
Về nợ chung: Bà N tự khai xác định không thiếu nợ ai nên tòa không xem xét.
Thi hành tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
2. Án phí :
Án phí dân sự sơ thẩm là 200.000 đồng bà N phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 200.000 đồng theo biên lai thu số 0001833 ngày 20/9/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8. Bà N đã thi hành xong phần án phí.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Caùc ñöông söï coù quyeàn khaùng caùo baûn aùn trong haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc baûn aùn ñöôïc nieâm yeát taïi ñòa phöông nôi cö truù ñeå yeâu caàu Toøa aùn nhaân daân TP Hoà chí Minh xeùt xöû phuùc thaåm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q8; - Chi cục THA DS Q8; - UBND PC, QT, TP.HCM. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | Trần Thị Thúy Minh |