vanban.org

Bản án 992/2024/HS-PT — Hình sự

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” - phạm tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh ho…"
  • Tòa quyết gì? 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 348 Bộ luật Hình sự
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 992/2024/HS-PT
Ngày 18 tháng 12 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Tiến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Vũ Đông

Ông Ong Thân Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Phương, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 18 tháng 12 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực

tuyến số IV - Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 1136/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

* Bị cáo có kháng cáo:

Hoàng Văn K (tên gọi khác: Không); sinh ngày 01/7/1979 tại tỉnh Cao

Bằng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: xóm N, xã T, huyện B, tỉnh Cao Bằng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1958; vợ là Mông Thị T, sinh năm 1980; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 18/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/3/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn K: Bà Nông Thị Thu T1 - Trợ

giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 04h10 phút ngày 04/3/2024 tại khu vực xóm N, xã C huyện B, tỉnh Cao

Bằng tổ công tác phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh C phối hợp Công an huyện B đang làm nhiệm vụ phát hiện Hoàng Văn K điều khiển xe máy HONDA WAVE RSX màu đỏ đen mang biển kiểm soát 11L1-043.92 chở Tạ Văn T2 đi phía trước, Hoàng Văn N1 điều khiển xe máy HONDA BLADE màu trắng mang biển kiểm soát 11L1-074.45 chở Nguyễn Thị H1 đi theo sau có biểu hiện nghi vấn về xuất nhập cảnh trái phép. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra phát hiện những người này không có giấy tờ xuất, nhập cảnh theo quy định, tổ công tác đã tạm giữ người, phương tiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.

Tiến hành điều tra vụ án đã xác định được như sau: Cuối năm 2023 Hoàng

Văn K tham gia mạng xã hội Wechat thì có một tài khoản bằng chữ Trung Quốc kết bạn, đến ngày 01/3/2024 có một người phụ nữ Trung Quốc (không biết tên, địa chỉ) gọi trao đổi, người này bảo K đón và đưa người xuất cảnh trái phép qua mốc 581 thuộc Lũng Cuổng, xã C, huyện B nếu thành công sẽ được trả số tiền 200CNY (nhân dân tệ), nên K đồng ý. Khoảng 17h30 phút ngày 03/3/2024 người phụ nữ thông báo có 02 người xuất cảnh trái phép đã đến thị trấn B, đồng thời người này nói 3h sáng ngày 04/3/2024 đến nhà nghỉ Q, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng đón người và đưa đến mốc biên giới 581, giao nhận người khoảng 6h sáng cùng ngày và sẽ được nhận tiền công là 200 CNY (nhân dân tệ), sau đó người phụ nữ gửi số điện thoại của một trong hai người xuất cảnh trái phép cho K. Do không sử dụng thành thạo điện thoại, nên K cho con trai là Hoàng Vân N2 gọi thì biết 02 người chuẩn bị xuất cảnh trái phép đang ở nhà nghỉ Q, thị trấn B, huyện B, tỉnh Cao Bằng, K hẹn khoảng 3h sáng hôm sau sẽ đến đón. Sáng sớm ngày 04/3/2024 K gọi N2 dậy đi giúp đưa 01 người đến khu vực L, xã C, huyện B, nhưng không nói cho N2 biết việc đưa người xuất cảnh trái phép, cũng như số tiền công sẽ được trả, một lúc sau K và N2 mỗi người điều khiển 01 xe máy đi đến nhà nghỉ Q gọi điện thì có 02 người đi ra, K đèo người đàn ông tên là Tạ Văn T2 và bảo N2 đèo người phụ nữ là Nguyễn Thị H1, K điều khiển xe máy đi trước, N2 đi theo sau, khi nhóm người đang di chuyển được khoảng 15 phút thì bị tổ công tác phòng Q1 Công an tỉnh C và Công an huyện B phát hiện và lập biên bản phạm pháp quả tang theo quy định.

Hai công dân xuất cảnh trái phép khai nhận: Do nhu cầu tìm việc làm thông

qua mạng xã hội Wechat Nguyễn Thị H1 và Tạ Văn T2 được một người phụ nữ tên ALan (đang sinh sống ở Trung Quốc) hướng dẫn đến huyện B, tỉnh Cao Bằng, sau đó sẽ có người đón đưa đến biên giới, tiền công nếu trót lọt sang được Trung Quốc thì phải trả 5.700CNY (nhân dân tệ)/01 người. Nên ngày 03/3/2024 H1 và T2 đến thị trấn H và thuê phòng nghỉ, sáng ngày 04/3/2024 có 02 người đàn ông đi xe máy đến đón, khi đang di chuyển được khoảng 15 phút thì bị cơ quan chức năng kiểm tra, ngăn chặn.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28/8/2024 của Tòa án

nhân dân tỉnh Cao Bằng đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”; Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 18 tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 04/3/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và

thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/9/2024, bị cáo Hoàng Văn K kháng cáo

xin giảm hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Bị cáo Hoàng Văn K giữ nguyên lời khai tại giai đoạn sơ thẩm và trình bày

hoàn cảnh khó khăn, bị cáo chạy xe ôm, không nghĩ hậu quả là phạm tội. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: bị cáo có hoàn

cảnh khó khăn, chạy xe ôm kiếm sống, bị cáo là người mù chữ, người dân tộc thiểu số để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm

giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của pháp luật

tố tụng, người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đơn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, trong hạn luật định đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Văn K về tội “Tổ

chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phần hình phạt Toà án cấp sơ thẩm quyết định có phần nghiêm khắc. Do đó có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa quyết định về hình phạt của bản án sơ thẩm, giảm cho bi cáo từ 03 đến 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh C,

Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo Hoàng Văn K và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Xét hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn K thừa nhận

hành vi phạm tội; lời khai nhận tội của bị cáo phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vì vụ lợi, qua mạng xã hội Wechat Hoàng Văn K thỏa thuận với một người phụ nữ không quen biết đón đưa 02 người xuất cảnh trái phép từ thị trấn H đến mốc biên giới 581 thuộc xã C, huyện B, tỉnh Cao Bằng để nhận tiền công 200CNY (nhân dân tệ). Khi nhóm người di chuyển hướng về biên giới được khoảng 15 phút thì bị Tổ công tác phát hiện, ngăn chặn, K chưa nhận được tiền công như đã thoả thuận. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Hoàng Văn K về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo quy định tại khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét kháng cáo giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Tại phiên toà bị cáo

không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, nhưng trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, cũng chỉ vì mưu sinh kiếm sống hàng ngày lại do thiếu hiểu biết, nên đã trót phạm tội; tiền công chỉ là chở xe ôm bình thường, bị cáo cũng chưa nhận được tiền công, chưa đưa được người sang biên giới. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Ngày 18/6/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Bảo Lạc, tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội một phần do bị cáo không biết chữ, thiếu hiểu biết, hoàn cảnh gia đình khó khăn, muốn chở người để hưởng tiền công xe ôm nên trót phạm tội, bị cáo chưa được nhận tiền cũng chưa đưa được người qua biên giới. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và người bào chữa cho bị cáo về việc xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo Hoàng

Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Văn K;

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 116/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024

của Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng cụ thể như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất

cảnh trái phép”

Căn cứ khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của

Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/3/2024.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

có hiệu lực pháp luật ngay sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Hoàng Văn K không phải nộp án phí

hình sự phúc thẩm.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ