- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị Hồng L.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 991/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/9/2023 V/v tranh chấp: “ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Thục Hiền
2. Ông Đoàn Văn Rỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sở thẩm công khai vụ án thụ lý số: 637/2023/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng L, sinh năm 1987
Thường trú: Số aa, ấp XX, xã TT, huyện PP, tỉnh B.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trịnh Thanh S, sinh năm 1989
Thường trú: Số bb đường DD, Phường X, Quận Y, Thành phố Z.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 19/5/2023 và Bản tự khai ngày 17/7/2023, nguyên đơn là bà Lê Thị Hồng L trình bày:
Bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 59 cấp ngày 17/7/2020 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Hai bên chung sống có một người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó giữa hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống rất căng thẳng. Vào năm 2021 giữa hai bên mâu thuẩn trầm trọng và sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, hai bên ly thân đã lâu, hiện không còn tình cảm vợ chồng nữa, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S để ổn định cuộc sống riêng.
- Về con chung: Bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S có một người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020. Nếu ly hôn bà Lê Thị Hồng L đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung không yêu cầu ông Nguyễn Trịnh Thanh S cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về nợ chung: Bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S không có thiếu nợ chung của ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Trịnh Thanh S đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án số 637/2023/TB-TA ngày 23/6/2023; Giấy triệu tập số 637/GTT-TA ngày 23/6/2023 để ghi nhận ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn; Giấy triệu tập và Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 11/8/2023 về việc tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 637/TB-TA ngày 11/8/2023; Giấy triệu tập tham gia phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023 và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 637/GTT-TA ngày 06/9/2023, nhưng ông Nguyễn Trịnh Thanh S vẫn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt không lý do trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa hôm nay.
Tại phiên toà sơ thẩm,
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Lê Thị Hồng L được ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S. Về con chung, giao người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020 cho bà Lê Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông Nguyễn Trịnh Thanh S vì bà Lê Thị Hồng L không có yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung bà Lê Thị Hồng L khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là bà Lê Thị Hồng L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S. Theo kết quả xác minh của Công an Phường 02, Quận 8 thì ông Nguyễn Trịnh Thanh S hiện có hộ khẩu thường trú và thực tế cư trú tại Số bb đường DD, Phường X, Quận Y, Thành phố Z. Do đó, đây là tranh chấp về ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề ngày 25/7/2023 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án.
Bị đơn là ông Nguyễn Trịnh Thanh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập tham gia phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 246/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/8/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 191/2023/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2023 và giấy triệu tập tham gia phiên tòa số 637/GTT-TA ngày 06/9/2023 nhưng ông Nguyễn Trịnh Thanh S vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận số 59 cấp ngày 17/7/2020 của Ủy ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, nên có căn cứ xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Theo bà Lê Thị Hồng L trình bày thì thời gian đầu hai bên chung sống hạnh phúc, sau đó giữa hai bên bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, dẫn đến cuộc sống rất căng thẳng. Vào năm 2021 giữa hai bên mâu thuẩn trầm trọng và sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, hai bên ly thân đã lâu, hiện không còn tình cảm vợ chồng nữa, mục đích cuộc hôn nhân không đạt được nên bà Lê Thị Hồng L yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S để ổn định cuộc sống riêng.
Ngày 18/7/2023 Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có ban hành quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 637/2023/QĐ-CCTLCC gửi Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh về việc xác minh thông tin về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, điều kiện trực tiếp nuôi con giữa bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S. Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn phúc đáp với nội dung: « Uỷ ban nhân dân Phường 02, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được đơn yêu cầu giải quyết mâu thuẫn về hôn nhân gia đình, điều kiện nuôi con giữa bà L và ông S. Như vậy, từ thời điểm bà Lê Thị Hồng L nộp đơn ly hôn đến nay, bà Lê Thị Hồng L và ông Nguyễn Trịnh Thanh S không có khả năng hàn gắn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không đem lại hạnh phúc cho bà Lê Thị Hồng L, mục đích hôn nhân không đạt được, ông Nguyễn Trịnh Thanh S không đến Toà án để trình bày ý kiến và hoà giải chứng tỏ ông Nguyễn Trịnh Thanh S cũng không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Vợ chồng không còn sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó với nhau, do đó chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Lê Thị Hồng L được ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S.
Về con chung: Xét thấy, người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020 hiện chưa đủ 36 tháng tuổi, bà Lê Thị Hồng L có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung và không yêu cầu ông Nguyễn Trịnh Thanh S cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Ông Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt không rõ ý kiến gì về con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị Hồng L, giao cho bà Lê Thị Hồng L trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020. Ghi nhận việc bà Lê Thị Hồng L không yêu cầu ông Nguyễn Trịnh Thanh S cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng L xác định vợ chồng không có tài sản chung. Ông Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.
Về nợ chung và thực hiện nghĩa vụ dân sự chung: Bà Lê Thị Hồng L cam kết vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, ông Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét.
Về án phí: Bà Lê Thị Hồng L chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147,điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật phí và lệ phí số 87/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Lê Thị Hồng L.
1.1. Về quan hệ vợ chồng: Bà Lê Thị Hồng L được ly hôn với ông Nguyễn Trịnh Thanh S.
1.2. Về con chung: Giao cho bà Lê Thị Hồng L được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung tên Nguyễn Thiên Ánh D, sinh ngày 14/10/2020. Tạm hoãn việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho ông Nguyễn Trịnh Thanh S vì bà Lê Thị Hồng L không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật
1.3. Về tài sản chung: Bà Lê Thị Hồng L xác định vợ chồng không có tài sản chung, ông Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt không có ý kiến về vấn đề tài sản chung. Do vậy, Toà án không xem xét, giải quyết phần tài sản chung.
1.4. Về nợ chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Lê Thị Hồng L cam kết vợ chồng không có khoản nợ nào chung và cũng không thực hiện nghĩa vụ dân sự với ai, ông Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt, không có ý kiến nên Tòa không xem xét giải quyết phần nợ chung.
1.5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Bà Lê Thị Hồng L chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị Hồng L đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số AA/2023/00035884 ngày 05/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về quyền kháng cáo:
Bà Lê Thị Hồng L và ng Nguyễn Trịnh Thanh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSnhân dân Quận 8; - Chi cục THA DS Quận 8; - Lưu: VP, hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Chi Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thanh Chi |