- Tranh chấp gì? "Huỳnh Thị Đóa - phạm tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai (điều 173 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên b bị cáo Huỳnh Thị Đ (tên gọi khác: Bé Đen) phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH THỪA THIÊN H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| B n án s : 99/2021/HS- ST Ngày: 25 - 5 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH THỪA THIÊN H.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tuyết Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Thanh Xuân;
2. Bà Trần Bích Thủy;
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Vũ Quang- Thư ký Toà án nhân dân thành ph , tỉnh Thừa Thiên .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố , tỉnh Thừa Thiên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành ph , tỉnh Thừa Thiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý s 83/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 97/2021/QĐXXST- HS ngày 10/5/2021 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Huỳnh Thị Đ (tên gọi khác: Bé Đen); sinh năm 1968 tại tỉnh Thừa Thiên ; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: 80 Đào Duy T, phường Phú H, thành ph H , tỉnh Thừa Thiên H; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 03/12; Qu c tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Huỳnh Xuân C và bà Lê Thị Thu gia đình có 03 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ nhất; Có chồng là Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1970; Có 02 con lớn nhất 32 tuổi, nhỏ nhất 28 tuổi. Tiền án: 03 tiền án; Tiền sự: không.
Nhân thân: Lúc nhỏ ở với gia đình, học lớp 03/12 thì nghỉ học ở nhà.
Ngày 27/5/1983, bị Công an thành ph bắt về hành vi “Trộm cắp tài s n của công dân”;
Ngày 11/5/1985, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Hra quyết định tập trung c i tạo với thời hạn 03 (ba) năm về hành vi “Trộm cắp tài s n của công dân” (Quyết định s 28/UB);
Ngày 27/02/1989, bị Công an thành ph bắt về hành vi “Trộm cắp tài s n của công dân”;
Ngày 12/6/1991, bị Tòa án nhân dân thành ph H xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 42/HSST);
Ngày 27/10/1994, bị Tòa án nhân dân thành ph Hxử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 60/HSST);
Ngày 18/9/1998, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên H xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 68/HSST);
Ngày 28/02/2005, bị Tòa án nhân dân thành ph H xử phạt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 23/HSST);
Ngày 26/10/2009, bị Tòa án nhân dân thành ph H xử phạt 04 (b n) năm tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 167/HSST), bị cáo chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm;
Ngày 15/01/2014, bị Tòa án nhân dân thành ph H xử phạt 04 (b n) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài s n” (B n án s 24/HSST), ngày 29/8/2017 chấp hành xong án phạt tù về lại địa phương.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/02/2021 cho đến nay, “có mặt”.
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Ng, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Diên Trường, thị trấn Thuận A, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên H, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Kho ng 15 giờ 40 phút ngày 19/01/2021, Huỳnh Thị Đ đi chợ Đông Ba thuộc phường Phú Hòa, thành ph H để mua đồ dùng sinh hoạt trong gia đình. Kho ng 16 giờ 00 phút, Đ đi ngang qua cửa hàng bán đồ vàng mã trong chợ thì thấy chị Nguyễn Thị Ng đang đứng mua hàng, trong túi áo khoác có bỏ một cái điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng nên n y sinh ý định trộm cắp. Đ đi đến và gi vờ va chạm vào người chị Ngân, lén lút lấy trộm chiếc điện thoại của chị Ngân rồi bỏ đi. Kho ng 17 giờ cùng ngày, khi Đ đi đến bãi giữ xe của chợ Đông Ba thì bị Công an phường Phú Hòa, thành ph phát hiện. Tại cơ quan Công an, Huỳnh Thị Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
*Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng, s Imel: 35443506406673; đã qua sử dụng.
Tại b n kết luận định giá tài s n s 34/KL- HĐĐGTS ngày 20/01/2021 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự thành ph kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng, s Imel: 35443506406673 đã qua sử dụng vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 19/01/2021 có giá trị 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng).
*Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:
Cơ quan C nh sát điều tra Công an thành ph H đã tr lại chiếc điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngân. Chị Ngân không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình điều tra, truy t , bị cáo Huỳnh Thị Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại b n cáo trạng s 101/CT - VKS - HS ngày 09 tháng 4 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành ph truy t Huỳnh Thị Đ về tội “Trộm cắp tài s n” theo điểm g kho n 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy t và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên b bị cáo Huỳnh Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài s n”. Áp dụng điểm g kho n 2 Điều 173; điểm h, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Đ mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 07/02/2021.
- Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ng đã nhận lại đầy đủ tài s n, không có yêu cầu gì nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo Đ ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Có đủ căn cứ kết luận: Kho ng 15 giờ 40 phút ngày 19/01/2021, tại chợ Đông Ba thuộc phường Phú H, thành ph H , bị cáo Huỳnh Thị Đ đã lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Ng 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus màu vàng có giá trị 2.600.000 đồng (Hai triệu sáu trăm nghìn đồng). Bị cáo Huỳnh Thị Đ đã tái phạm nguy hiểm về trộm cắp tài s n chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội do c ý nên đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là “ Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài s n” được quy định tại điểm g kho n 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành ph truy t bị cáo Huỳnh Thị Đ tại b n Cáo trạng s 101/CT - VKS - HS ngày 09 tháng 4 năm 2021 là có căn cứ pháp luật.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Đ là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài s n của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn c ý thực hiện. Do bị cáo không chịu lao động, mu n có tiền tiêu xài nhanh chóng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài s n hợp pháp của người khác mà còn gây nh hưởng xấu đến trật tự địa phương nên cần ph i xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo Đ có nhân thân xấu, nhiều lần vi phạm pháp luật và đang có 03 tiền án về tội trộm cắp tài s n nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện b n thân mà tiếp tục phạm tội. Chứng tỏ bị cáo coi thường thường pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đ không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Đ được hưởng tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, thành khẩn khai báo được quy định tại các điểm h, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần ph i cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ pháp luật.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Ng đã nhận lại đầy đủ tài s n không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi, quyết định t tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật T tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và b n cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan t tụng, người tiến hành t tụng là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Đ ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g kho n 2 Điều 173; các điểm h, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên b bị cáo Huỳnh Thị Đ (tên gọi khác: Bé Đen) phạm tội “Trộm cắp tài s n”.
Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 07/02/2021.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326 /2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, gi m, thu nộp, qu n lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Huỳnh Thị Đ ph i chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo b n án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc ngày b n án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh T T H; - VKSND TP H; - Công an TP H - Sở tư pháp tỉnh T T H ; - Phòng PV 06 Công an tỉnh T T H - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Lê Tuyết Linh |