- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA.99.2026.HS.TRẦN VĂN V - TRỘM CẮP TÀI SẢN - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu của bị cáo Trần Văn V 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 30X5 - 9749, màu sơn đỏ đen, bên trái có một gương chiếu hậu nhỏ (đã cũ), xe không có đăng kí đã sử dụng làm phương tiện phạm tội để bán sung quỹ Nhà nước.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ ======================================= Bản án số: 99/2026/HS-ST Ngày 28 tháng 8 năm 2026 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Hồng Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh và bà Nguyễn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Phú Thọ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Phan Mạnh Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2026/HSST-QĐ ngày 12 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo;
Họ và tên: Trần Văn V - Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1997.
Tên gọi khác: Không.
Căn cước công dân số: 008097007752. Cấp ngày 19/8/2022. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lí hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an.
Nơi sinh: Xã H, tỉnh T.
Nơi đăng kí thường trú: Thôn KT3, xã H, tỉnh T.
Nghề nghiệp: Lao động tự do . Trình độ học vấn: Lớp 3/12.
Dân tộc; Cao Lan. Giới tính; Nam. Tôn giáo; Không. Quốc tịch; Việt Nam.
Con ông Trần Văn Y và bà Tô Thị C.
Vợ, con chưa có.
- Tiền án: Bản án số 62/2021/HS-ST ngày 28/4/2021, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, phải nộp 200.000.đ tiền án phí. Đã nộp xong tiền án phí ngày 04/6/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/01/2022.
Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 25/8/2023, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án này bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Được miễn nộp tiền án phí. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/3/2024.
- Nhân thân:
+ Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 12/6/2020, Chủ tịch UBND xã V, huyện S, tỉnh T áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời hạn 03 tháng vì có hành vi ‘Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong.
+ Quyết định số 15/2021/QĐ-TA ngày 03/02/2021, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T áp dụng biện pháp xử lí hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 15 tháng. Chưa chấp hành vì ngày 28/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Quyết định số 68/QĐ-XPVPHC ngày 23/02/2021, Công an huyện S, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Hình thức phạt tiền 750.000.đ. Đã nộp phạt ngày 01/3/2021.
+ Quyết định số 379//QĐ-XPHC ngày 17/11/2022, Công an huyện S, tỉnh T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Hình thức phạt tiền 2.500.000.đ. Đã đôn đốc nhiều lần nhưng không có khả năng nộp phạt. Đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/4/2026 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh Phú Thọ (bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại:
1. Bà Hà Thị Viễn; sinh năm 1983 (vắng mặt).
Nơi thường trú: Khu 4 Trị Quận, xã D, tỉnh P.
Nơi ở hiện tại: Khu 3 Trị Quận, xã D, tỉnh P.
2. Ông Tạ Văn Anh; sinh năm 1971 (vắng mặt).
Nơi thường trú: Khu 9 Phú Lộc, xã PN, tỉnh P.
3. Anh Bùi Quang Vinh; sinh năm 1992 (vắng mặt).
Nơi thường trú: Khu 9 Phú Lộc, xã PN, tỉnh P.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Tô Thị Chắc; sinh năm 1966 (vắng mặt)
Nơi đăng kí thường trú: Thôn KT3, xã H, tỉnh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 30/03/2026, tổ công tác của Công an xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ cùng khu dân cư tiến hành tuần tra trên đoạn đường 323D thuộc khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì phát hiện Trần Văn V, nhà ở thôn KT3, xã V, (nay là xã H), tỉnh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đỏ đen, biển số: 30X5 - 9749, có chở theo một chiếc túi tải màu xanh được buộc kín hai đầu, trong tải phát hiện có 13 con ngan màu trắng, Trần Văn V khai vừa trộm cắp tại một nhà dân ở khu 3 Trị Quận, xã Dân Chủ, tỉnh Phú Thọ. Cơ quan Công an cùng khu dân cư tiến hành lập biên bản và thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 30X5 - 9749 (xe không có đăng ký); 01 chiếc kìm bằng kim loại sắt; 01chiếc tải màu xanh; 13 con ngan trưởng thành màu trắng, cân có tổng trọng lượng 23,3kg.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng 07 giờ 30 phút sáng ngày 30/03/2026, do cần tiền để tiêu sài nên Vị một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 30X5 - 9749 và cầm theo một chiếc tải màu xanh, một chiếc kìm bằng sắt với mục đích đem theo để đi trộm cắp gà, ngan. Trần Văn V từ nhà ở xã H, tỉnh T đi đến khu 3 Trị Quận, xã Dân Chủ, tỉnh Phú Thọ, thấy nhà chị Hà Thị Viễn đã khoá cổng và cửa nhà, Vị liền dựng xe mô tô ở cổng rồi mang theo tải, kìm đi ra phía sau ngôi nhà nhìn thấy chỗ nhốt ngan có khoảng 15 con ngan màu trắng, mỗi con nặng khoảng 02kg, Vị dùng tay bắt tổng 13 con ngan màu trắng rồi nhét vào tải, buộc hai đầu sau đó ôm mang theo tải ngan đi ra trước cửa nhà. Thấy cửa nhà đã khoá, nên Vị nảy sinh ý định phá khoá để vào trong trộm cắp tài sản, Vị dùng chiếc kìm mang theo bẻ cong then rồi chui vào trong nhà, lục lọi đồ đạc nhưng không thấy tài sản gì có giá trị nên không lấy gì. Sau đó Vị ôm tải ngan để lên giá xe mô tô mục đích đem đến chợ Ma thuộc xã Hà Thạch cũ bán nhưng khi đi đến đoạn đường 323D gần với nhà văn hoá thuộc khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác của Công an xã Phù Ninh kiểm tra, phát hiện lập biên bản như đã nêu trên.
Ngoài ra, Trần Văn V còn tự khai nhận trước đó đã có 02 lần trộm cắp tài sản khác, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã điều tra làm rõ, cụ thể:
Lần 1: Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 13/02/2026, Vị một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX màu đỏ, đen biển số 30X5 - 9749, từ khu công nghiệp Phú Hà thuộc thị xã Phú Thọ cũ đi theo đường Quốc lộ 2 đến khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì nhìn thấy nhà anh Bùi Quang Vinh không có người ở nhà, Vị dựng xe mô tô ngoài cổng, cầm theo tải màu xanh đi vào phía sau nhà rồi vào chuồng gà bắt tổng 17 con gà cả trống và mái, cho vào bao tải, ước tính tổng trọng lượng khoảng 40kg. Sau đó Vị mang số gà ra để trên xe mô tô đi về xã H, tỉnh T để tiêu thụ. Trên đường đi, Vị gặp một người phụ nữ đang đi bộ trên đường, không biết tên, tuổi, địa chỉ và đã bán toàn bộ 17 con gà vừa trộm cắp được cho người phụ nữ này. Cân 17 con gà này lên thì được tổng trọng lượng 42,0 kg và bán được số tiền 2.800.000.đ. Số tiền này Vị đã chi tiêu cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định nơi xảy ra vụ việc, lấy lời khai của anh Bùi Quang Vinh, anh Vinh trình bày: Vào ngày 13/02/2026 gia đình anh bị trộm cắp 17 con gà thịt cả trống và mái, trọng lượng trung bình mỗi con khoảng 2,0 kg.
Lần 2: Vào khoảng 14 giờ 30 ngày 16/03/2026, Vị một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX biển số: 30X5 - 9749 từ nhà ở xã H, tỉnh T đến khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thì thấy cổng nhà ông Tạ Văn Anh khoá, Vị dựng xe ở cổng rồi cầm theo túi tải màu xanh, đi theo hướng bãi đất trống bên tay phải theo hướng từ cổng nhìn vào, đến một bức tường cao khoảng hơn 02m trèo lên và chui theo một lỗ to lọt người xuống chuồng gà, Vị dùng tay không bắt được 03 con gà trong đó có một con gà trống nặng khoảng 5,0 kg và hai con gà mái mỗi con nặng khoảng 2,5kg. Sau đó, Vị đem gà ra để trên xe mô tô rồi điều khiển xe đi lên gần khu vực chợ Ma bán ba con gà này cho một người phụ nữ không quen biết đứng ở ven đường, tổng trọng lượng 03 con gà được 9,5kg, người phụ nữ này trả cho Vị số tiền 800.000.đ. Số tiền này Vị đã chi tiêu cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định nơi xảy ra vụ việc, lấy lời khai của ông Tạ Văn Anh, ông Anh trình bày: Ngày 16/3/2026 gia đình bị trộm cắp 03 con gà, một con gà trống, 02 con gà mái có tổng trọng khoảng 11,0 kg.
Ngày 31/3/2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra yêu cầu định giá tài sản số 9817 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã Phù Ninh định giá đối với tài sản là: 13 con ngan thịt có trọng lượng 23,3kg tại thời điểm 30/3/2026; 17 con gà thịt có trọng lượng 42,0 kg tại thời điểm 13/2/2026 và 03 con gà thịt có trọng lượng 10,0 kg tại thời điểm 16/3/2026
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 31/3/2026 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND xã Phù Ninh kết luận: “Giá trị của 13 con ngan thịt có trọng lượng 23,3 kg tại thời điểm tháng 3/2026 là 1.800.000 đồng; 17 con gà thịt có trọng lượng 42,0 kg tại thời điểm tháng 3/2026 là 4.200.000 đồng và 03 con gà thịt có trọng lượng 10,0 kg tại thời điểm tháng 3/2026 là 1.000.000 đồng. Tổng số tiền là 7.000.000 đồng”
Tại Cơ quan điều tra, Trần Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình như nội dung đã nêu trên.
Về dân sự: Chị Hà Thị Viễn đã nhận lại tài sản bị trộm cắp là 13 con ngan, không có yêu cầu gì về bồi thường. Ngày 20/4/2026, bà Tô Thị Chắc là mẹ của Trần Văn V đã bồi thường cho anh cho anh Bùi Quang Vinh số tiền 4.200.000.đ và bồi thường cho anh Tạ Văn Anh số tiền 1.000.000.đ. Anh Vinh và anh Anh không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Vật chứng, tài sản hiện đang tạm giữ gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 30X5 - 9749 (xe không có đăng ký); 01 chiếc kìm bằng kim loại sắt; 01 chiếc tải màu xanh kích thước 85x95cm. Các vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng số 01 - Công an tỉnh Phú Thọ.
Bản Cáo trạng số 43/CT-VKSPTO-KV ngày 10/7/2026, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Phú Thọ truy tố bị cáo Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị với Hội đồng xét xử như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 50; điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Phạt Trần Văn V từ 36 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 02/4/2026. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về vật chứng, Kiểm sát viên đề nghị: Tịch thu của bị cáo Trần Văn V 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX biển số 30X5 - 9749 để sung quỹ Nhà nước. Tịch thu 01 chiếc kìm bằng sắt và 01 chiếc tải để tiêu hủy. Xác nhận bị cáo và bà Tô Thị Chắc (mẹ đẻ bị cáo) đã bồi thường cho người bị hại Bùi Quang Vinh số tiền 4.200.000.đ, bồi thường cho ông Tạ Văn Anh số tiền 1.000.000.đ và Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Hà Thị Viễn 13 con ngan.
Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghe Kiểm sát viên trình bày luận tội, bị cáo Trần Văn V thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không oan. Bị cáo không tự bào chữa, không tranh luận mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử cho mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn V đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản đúng như nội dung mà Cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, thì hành vi phạm tội còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ khác gồm: Biên bản làm việc ngày 30/3/2026 cùng các vật chứng thu giữ ngay sau khi phát hiện hành vi phạm tội, Kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, lời khai của chính bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các tài liệu, chứng cứ và vật chứng đều hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội; phù hợp với các tình tiết sự kiện khác của vụ án và đều được thu thập, kiểm tra đánh giá đầy đủ, toàn diện khách quan đúng quy định của pháp luật và có đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:
- Ngày 13/02/2026, Trần Văn V trộm cắp của gia đình anh Bùi Quang Vinh thuộc khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 17 con gà trị giá 4.200.000.đ.
- Ngày 16/3/2026, Trần Văn V trộm cắp của gia đình ông Tạ Văn Anh thuộc khu 9 Phú Lộc, xã Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ 03 con gà trị giá 1.000.000.đ.
- Ngày 30/3/2026, Trần Văn V tiếp tục trộm cắp của gia đình bà Hà Thị Viễn thuộc khu 3 Trị Quận, xã Dân Chủ, tỉnh Phú Thọ 13 con ngan trị giá 1.800.000.đ. Khi đang trên đường đem đi tiêu thụ thì bị Công an xã Phù Ninh phát hiện, lập biên bản, thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.
Tổng giá trị tài sản của cả 03 lần trộm cắp là 7.000.000.đ.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự thì lần trộm cắp 17 con gà ngày 13/02/2026 trị giá 4.200.000.đ đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do nhân thân bị cáo đang có 02 tiền án trong đó Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 25/8/2023, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã xác định tái phạm vì vậy lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” và phải chịu tình tiết định khung tăng nặng quy định điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Đối với lần trộm cắp ngày 16/3/2026 và ngày 30/3/2026, mặc dù giá trị tài sản trộm cắp dưới 2.000.000.đ nhưng vì nhân thân bị cáo đang có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên cũng là tình tiết định tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do vậy việc truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất của vụ án và tội phạm mà bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên sự bất an, lo lắng trong nhân dân về an ninh trật tự xã hội. Bản thân bị cáo có đầy đủ nhận thức hành vi chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vì ham lợi bất chính nên vẫn cố ý phạm tội vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, đủ để giáo dục bị cáo và răn đe đối với những kẻ khác.
. Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn, khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình, tự khai nhận những lần trộm cắp khi chưa bị phát hiện, cùng gia đình bồi thường toàn bộ các thiệt hại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án phạt tù chưa được xóa án tích, nhiều lần bị áp dụng biện pháp hành chính và xử phạt hành chính về hành vi sử dụng chất ma túy và trộm cắp tài sản. Mặc dù bị cáo đã nhiều lần bị pháp luật xử phạt như vậy nhưng vẫn không lấy đó làm bài học để sửa chữa lỗi lầm của bản thân mà vì ham lợi bất chính, coi thường pháp luật nên vẫn tiếp tục phạm tội vì vậy lần phạm tội này cần phải áp dụng hình phạt tù, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về với xã hội sẽ là một công dân luôn chấp hành pháp luật.
. Về phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt một khoản tiền để nộp ngân sách Nhà nước, nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng vì vậy không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Hà Thị Viễn đã được nhận lại tài sản là 13 con ngan, không yêu cầu bồi thường gì. Bị cáo và gia đình do bà Tô Thị Chắc mẹ đẻ bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại về tài sản cho người bị hại là ông Tạ Văn Anh và anh Bùi Quang Vinh. Ông Anh và anh Vinh không yêu cầu bồi thường gì thêm vì vậy không đề cập giải quyết.
. Về vật chứng của vụ án:
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda RSX biển số 30X5 - 9749 là tài sản của bị cáo, đã sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên phải tịch thu bán sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 chiếc kìm bằng sắt và 01 chiếc tải là các vật dụng, công cụ bị cáo sử dụng để trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Trần Văn V phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo và đề xuất về xử lý vật chứng. Đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Riêng đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử cho rằng: Đối với lần trộm cắp ngày 13/02/2026 trị giá 4.2000.000.đ đủ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, do nhân thân bị cáo nên đã áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đối với 02 lần trộm cắp còn lại, giá trị tài sản đều dưới 2.000.000.đ, do nhân thân bị cáo nên là tình tiết định tội do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” là phù hợp.
. Căn cứ vào diễn biến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Trong quá trình điều tra, truy tố; các quyết định và hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; của Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên đều chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra đều hợp pháp, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến tại phiên tòa và có đủ căn cứ để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 50, điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo Trần Văn V 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 02/4/2026. Miễn phạt bổ sung cho bị cáo Trần Văn V.
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
+ Tịch thu của bị cáo Trần Văn V 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda RSX, biển số 30X5 - 9749, màu sơn đỏ đen, bên trái có một gương chiếu hậu nhỏ (đã cũ), xe không có đăng kí đã sử dụng làm phương tiện phạm tội để bán sung quỹ Nhà nước.
+ Tịch thu 01 chiếc tải màu xanh, kích thước 85x95cm (đã cũ) và 01 chiếc kìm bằng kim loại sắt, có 02 tay cầm được bọc nhựa màu đỏ đen dài 18,0 cm, trên hai tay cầm có chữ “THAI NGUYÊN” và có chữ “KIN”, là các vật dụng công cụ dùng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng để tiêu hủy.
(Những vật chứng, tài sản trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Khu vực số 1 - Công an tỉnh Phú Thọ).
+ Xác nhận bị cáo và bà Tô Thị Chắc (mẹ đẻ bị cáo) đã bồi thường cho người bị hại anh Bùi Quang Vinh số tiền 4.200.000.đ, bồi thường cho ông Tạ Văn Anh số tiền 1.000.000.đ và người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
+ Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Thọ đã trả lại cho bà Hà Thị Viễn 13 con ngan thịt có trọng lượng 23,3 kg (biên bản trả lại tài sản ngày 31/3/2026 có lưu trong hồ sơ vụ án).
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Bị cáo Trần Văn V phải nộp 200.000.đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Phú Thọ; - VKSND Khu vực 3 - Phú Thọ; - Phòng Cảnh sát THAHS Công an tỉnh; - Văn phòng CQCSĐT (PC01); - Tại tạm giam số 1 - Công an tỉnh; - THA dân sự tỉnh Phú Thọ; - Phòng THADS Khu vực 3 - Phú Thọ; - UBND xã H, T; - Bị cáo, người bị hại, người liên quan; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Tạ Hồng Tuấn |