vanban.org

Bản án 99/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T.

Buộc bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Thanh T tiền nợ hụi vốn 169.800.000 đồng + lãi 23.911.802 đồng = 193.711.802 đồng. Đình chỉ một phần yêu cầu đối với dây hụi tháng 10.000.000 đồng khui vào ngày 29/7/2023 đã đóng 05 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Hồ Thị Thanh Tùng - Nguyễn Hồ Cẩm Tú"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2025/DS-ST
Ngày 23-5-2025
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Bích Khiếm

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Hà Văn Châu

Ông Dư Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Chí Thức là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 333/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 8 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Thanh T, sinh năm 1968. Địa chỉ: Số 47, đường NTMK, Phường B, thành phố S, tỉnh S (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T: Luật sư Võ Hoàng A (có mặt) và luật sư Nguyễn Văn T (vắng mặt) – Văn phòng luật sư Võ Hoàng Anh – Đoàn luật sư tỉnh S. Địa chỉ: 986 đường VVK, khóm B, phường M, thành phố S, tỉnh S.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Hồ Cẩm T1, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 222 đường 30/4, khóm H, phường B, thành phố S, tỉnh S.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Anh D, sinh năm 1954. Địa chỉ: Số 24, đường số 1, Khu dân cư THĐ, Phường H, thành phố S, tỉnh S (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/6/2024, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T trình bày:

Nguyên bà T và bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 có quan hệ là dòng họ trong gia đình. Bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là chủ hụi và bà T là hụi viên và bà T đã có tham gia chơi hụi do bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 làm chủ hụi, bao gồm 05 dây cụ thể như sau:

Dây hụi thứ 1: Hụi tháng 10.000.000 đồng, có 15 hụi viên, mở vào ngày 12 âm lịch hàng tháng, bắt đầu đóng từ ngày 29/07/2023. Bà T tham gia 01 chân và đã đóng 05 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 39.000.000 đồng.

Dây hụi thứ 2: Hụi tháng 5.000.000 đồng, có 12 hụi viên, mở vào ngày 28 âm lịch hàng tháng. Bà T tham gia 02 chân hụi, bắt đầu đóng từ ngày 19/03/2023 và đã đóng được 09 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 81.000.000 đồng.

Dây hụi thứ 3: Hụi tháng 1.000.000 đồng, có 12 hụi viên, mở ngày 18 âm lịch hàng tháng. Bà T tham gia 10 chân hụi, bắt đầu từ ngày 08/02/2023 và đã đóng được 11 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cầm T1 là 88.800.000 đồng.

Dây hụi thứ 4: Hụi nửa tháng 5.000.000 đồng, có 15 hụi viên, đóng vào ngày 01 và 15 âm lịch mỗi tháng. Bà T tham gia 02 chân hụi, bắt đầu đóng từ ngày 18/06/2023 và đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 102.400.000 đồng.

Dây hụi thứ 5: Hụi ngày 10.000.000 đồng, có 16 hụi viên, mở ngày 10 - 20 - 30 âm lịch hàng tháng. Bà T tham gia 01 chân và bắt đầu đóng từ ngày 10/08/2023 và đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 105.500.000 đồng. Như vậy, tổng cộng bà T đã đóng hụi cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 416.700.000 đồng.

Tuy nhiên, vào khoảng tháng 12/2023 bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 nói không còn còn khả năng chi trả và không hẹn khi nào sẽ thanh toán. Bà T có liên hệ với bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 để thỏa thuận việc trả nợ nhưng bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 không thiện chí.

Tại phiên tòa bà Hồ Thị Thanh T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện:

Dây hụi tháng 10.000.000 đồng khui vào ngày 29/7/2023 đã đóng 05 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 39.000.000 đồng.

Dây hụi nửa tháng 5.000.000 đồng khui ngày 18/6/2023 đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 102.400.000 đồng.

Dây hụi ngày 10.000.000 đồng khui ngày 10/8/2023 đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 105.500.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Hồ Thị Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết:

Hụi tháng 5.000.000 đồng, có 12 hụi viên, mở vào ngày 28 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 02 chân hụi, bắt đầu đóng từ ngày 28/02/2023 âm lịch (ngày 19/3/2023 dương lịch) và đã đóng được 09 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 81.000.000 đồng.

Hụi tháng 1.000.000 đồng có 12 hụi viên, mở ngày 18 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 10 chân hụi, bắt đầu từ ngày 18/01/2023 âm lịch (ngày 08/02/2023 dương lịch) đã đóng được 11 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 88.800.000 đồng.

Tổng số tiền yêu cầu bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 trả là 169.800.000 đồng và tạm tính lãi suất chậm trả từ ngày 24 tháng 12 năm 2023 cho đến ngày xét xử ngày 23/5/2025 là (01 năm 04 tháng 29 ngày) theo lãi suất 0,83%/tháng là 23.911.802 đồng. Tổng cộng gốc và lãi: 193.711.802 đồng.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Võ Hoàng Anh trình bày:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp Tại biên bản làm việc ngày 10/01/2024 bà T1 thừa nhận bà T có tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ, đến ngày 24/12/2023 thì bà T1 tuyên bố ngừng việc chơi hụi. Tuy nhiên, trong biên bản làm việc ngày 10/01/2024 bà T1 trình bày là chị T nhưng các dây hụi chơi chỉ có bà T là dì ruột của bà T1 đây cũng là cách xưng hô tại cơ quan điều tra. Tại phiên tòa nguyên đơn cũng đã rút lại các dây hụi không có trong biên bản làm việc ngày 10/01/2024 khi không có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hồ Thị Thanh T,

- Bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 từ khi tòa án thụ lý vụ án đến nay đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến gì.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Anh D trình bày: Ông là anh ruột của bà Hồ Thị Thanh T các dây hụi bà T tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ là do ông D là người đứng ra đóng hụi dùm cho bà T mỗi lần bà T đóng hụi hay hốt hụi ông D là người tính với bà T1 và bà T1 đưa tiền cho ông D để đưa lại cho bà T. Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T, ông D cũng thống nhất.

- Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 72; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Sau khi phân tích đánh giá chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ, tranh tụng tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến trình bày của các đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn T1.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ hụi và bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu hụi tháng 5.000.000 đồng, có 12 hụi viên, mở vào ngày 28 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 02 chân hụi, bắt đầu đóng từ ngày 28/02/2023 âm lịch (ngày 19/3/2023 dương lịch) và đã đóng được 09 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 81.000.000 đồng. Hụi tháng 1.000.000 đồng có 12 hụi viên, mở ngày 18 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 10 chân hụi, bắt đầu từ ngày 18/01/2023 âm lịch (ngày 08/02/2023 dương lịch) đã đóng được 11 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 88.800.000 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu.

Về nội dung:

[2.1] Theo các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh và tài liệu do nguyên đơn cung cấp, căn cứ Khoản 2 Điều 92; Khoản 1 Điều 95 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử công nhận trên thực tế giữa bà Hồ Thị Thanh T và bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 có giao kết hợp đồng góp hụi dây hụi tháng 5.000.000 đồng, có 12 hụi viên, mở vào ngày 28 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 02 chân hụi, bắt đầu đóng từ ngày 28/02/2023 âm lịch (ngày 19/3/2023 dương lịch) và đã đóng được 09 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 81.000.000 đồng. Hụi tháng 1.000.000 đồng có 12 hụi viên, mở ngày 18 âm lịch hàng tháng, bà T tham gia 10 chân hụi, bắt đầu từ ngày 18/01/2023 âm lịch (ngày 08/02/2023 dương lịch) đã đóng được 11 kỳ hụi sống. Tổng số tiền đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 88.800.000 đồng. Xét thấy, bà T đã thực hiện đúng nghĩa vụ của hụi viên là đóng đầy đủ tiền hụi vào các kỳ khui hụi, thể hiện qua biên bản làm việc ngày 10/01/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sóc Trăng, bà T1 thừa nhận bà T có tham gia chơi hụi do bà T1 làm chủ, đến ngày 24/12/2023 bà T1 thông báo ngừng việc chơi hụi. Vì vậy, bà T yêu cầu bà T1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà T số tiền hụi của các dây hụi như trên với tổng số tiền 169.800.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy, bà T yêu cầu tính lãi từ ngày 24/12/2023 là ngày bà T1 thừa nhận ngừng việc chơi hụi đến ngày xét xử sơ thẩm 23/5/2025 là 01 năm 04 tháng 29 ngày. Về mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Cụ thể: 169.800.000 đồng x 10%/năm x 01 năm 04 tháng 29 ngày = 23.911.802 đồng. Do đó, yêu cầu tính lãi suất của nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Như vậy tổng cộng số tiền vốn và lãi mà bà T1 có nghĩa vụ thanh toán cho bà T là 193.711.802 đồng.

Như đã phân tích nêu trên lời đề nghị của Kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn về nội dung là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí trên phần có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn. Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 2 Điều 92, Điều 95, Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 244; Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 18, Điều 23 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu phường; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T.

2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 có trách nhiệm trả cho bà Hồ Thị Thanh T tiền nợ hụi vốn 169.800.000 đồng + lãi 23.911.802 đồng = 193.711.802 đồng.

3. Đình chỉ một phần yêu cầu đối với dây hụi tháng 10.000.000 đồng khui vào ngày 29/7/2023 đã đóng 05 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 39.000.000 đồng. Dây hụi nửa tháng 5.000.000 đồng khui ngày 18/6/2023 đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 102.400.000 đồng. Dây hụi ngày 10.000.000 đồng khui ngày 10/8/2023 đã đóng được 12 kỳ hụi sống. Tổng số tiền bà T đóng cho bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 là 105.500.000 đồng.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bị đơn bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 9.685.590 đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày bà Hồ Thị Thanh T có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bà Nguyễn Hồ Cẩm T1 phải trả lãi cho bà Hồ Thị Thanh T theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 đối với số tiền chậm thi hành án.

6. Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ