- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa Trương Thị M và Phan Văn L, Hồ Thị Ánh L1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M.
- Căn cứ chính? Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Luật tố tụng hành chính; Luật Tư pháp người
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2025/DS-ST Ngày: 26-8-2025 V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thực;
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Huỳnh Văn Hoàn;
+ Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hoài Hiền Vy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đồng Tháp.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 64/2025/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm 1959; Địa chỉ: Ấp B, xã B, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang). (Có mặt)
- Bị đơn:
+ Anh Phan Văn L, sinh năm 1978; (Vắng mặt)
+ Chị Hồ Thị Ánh L1, sinh năm 1982; (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã L, tỉnh Đồng Tháp (Trước đây là: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết tại Tòa án, nguyên đơn, bà Trương Thị M trình bày: Bà có tham gia chơi hụi do vợ chồng chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L làm đầu thảo, chị Lụa là cháu ruột gọi bà bằng dì. Dây hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 05-6-2022 âm lịch, mỗi tháng mở hụi 01 lần, tổng cộng 28 phần, bà tham gia 01 phần và ghi tên Dì Sáu M1 trong danh sách hụi. Bà đóng hụi sống được 26 kỳ, hụi 2.000.000 đồng thì bỏ hụi từ 400.000 đồng đến 500.000 đồng, có khi hơn 500.000 đồng, nên bà đóng tiền mỗi tháng dao động từ 1.500.000 – 1.600.000 đồng, đến kỳ 27 thì chị L1, anh L không đi gom hụi, còn có khui hụi hay không thì bà không biết, chị L1 có nói với bà là để qua kỳ 28 xuống giao hụi rồi sẽ thu hụi của kỳ 27. Tuy nhiên, sau khi mãn hụi thì bà đến nhà chị L1, anh L đòi trực tiếp nhiều lần và cũng có gọi điện thoại đòi nhiều lần nhưng chị L1 nói chưa gom được hụi nên chưa giao. Nay bà yêu cầu anh L, chị L1 phải liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 52.000.000 đồng.
Bị đơn, chị Hồ Thị Ánh L1, anh Phan Văn L: Dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M, vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa.
Tại phiên tòa, bà Trương Thị M thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, trước đây yêu cầu anh Phan Văn L, chị Hồ Thị Ánh L1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền nợ hụi là 52.000.000 đồng nhưng nay trừ ra 1.000.000 đồng tiền hoa hồng nên yêu cầu trả số tiền còn lại là 51.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bà Trương Thị M khởi kiện yêu cầu chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L phải trả số tiền hụi chưa giao, nên căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”. Bị đơn, chị L1, anh L cư trú tại ấp M, xã L, tỉnh Đồng Tháp nên thẩm quyền giải quyết là của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đồng Tháp theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025.
Bị đơn, chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trương Thị M yêu cầu vợ chồng chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L liên đới trả số tiền nợ hụi là 51.000.000 đồng và cung cấp được bản chính giấy hụi 2.000.000 đồng, khui ngày 05-6-2022 âm lịch, ghi “Hụi của 2 Loa làm chủ”. Theo danh sách hụi thể hiện có 28 phần, bà M tham gia chơi 01 phần ghi ở số thứ tự 20 là “Dì S”, bà M xác định danh sách hụi do chính chị L1 ghi và phát cho mỗi hụi viên 01 tờ để biết người chơi. Vào thời điểm tổ chức chơi hụi, bà M không ở cùng xã với anh L, chị L1 nên khi khui hụi bà không có đến, chị L1 trực tiếp đến nhà bà để thu tiền hụi và khi đó sẽ thông báo mức tiền bỏ hụi cho bà biết. Bà M cho rằng đã đóng hụi cho chị L1, anh L được 26 kỳ, nên nay đòi lại số tiền hụi 52.000.000 đồng, nay đồng ý trừ ra 1.000.000 đồng tiền hoa hồng, còn lại 51.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn. Phía anh L, chị L1 không có ý kiến gì phản đối yêu cầu của bà M là tự mình từ bỏ nghĩa vụ chứng minh. Dây hụi đến nay đã mãn, nhưng anh L, chị L1 không cung cấp chứng cứ gì thể hiện đã trả tiền cho bà M và trong quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn cũng không đến Tòa án để thỏa thuận đã cho thấy các bị đơn không có thiện chí trả nợ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của bà M là có căn cứ nên chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà M không phải chịu án phí, bà M là người cao tuổi, được cho miễn nộp tạm ứng án phí nên không có việc trả lại tạm ứng án phí cho bà M. Chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2025; Điều 288, Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 15, khoản 2 Điều 16, Điều 17, Điều 18, Điều 21, Điều 22, Điều 23, Điều 25 của Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19-02-2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M.
Buộc chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trương Thị M số tiền nợ hụi là 51.000.000 (Năm mươi mốt triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.
2. Về án phí: Chị Hồ Thị Ánh L1 và anh Phan Văn L phải chịu 2.550.000 (Hai triệu năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của đương sự vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND khu vực 4 – Đồng Tháp; - THADS tỉnh Đồng Tháp; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | Nguyễn Anh Thực |