vanban.org

Bản án 99/2025/DS-PT — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 16/05/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/05/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự;

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong, t nh Bình Thu n. [2] Căn cứ: Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thành V-Nguyễn Thành D - Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự;
T A N NH N D N
T NH B NH THU N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2025/DS-PT
Ngày 16/5/2025
V/v tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất

NHÂN DANH NƯỚC C NG HÒA XÃ H I CHỦ NGH A VI T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH BÌNH THU N

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Xô.

Các Thẩm phán: 1. Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh

2. Ông Nguyễn Lê Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Tr c iang Thư To án nhân dân t nh nh Thu n.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Nguyễn Thị Linh, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ng y 20 tháng 3 v ng y 16 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 270/2024/TLPT-DS ng y 30 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 22/2025/QĐ-PT ngày 05/02/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QĐPT ng y 27/02/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 15/2025/QĐPT-PT ngày 20/3/2025; Thông báo mở lại phiên tòa số 52A/TB-TA ngày 21/4/2025 của Tòa án nhân dân t nh Bình Thu n, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thành V sinh năm 1979; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

- Bị đơn: ông Nguyễn Thành D sinh năm 1967; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Nguyễn Thị Thanh L sinh năm 1965; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh X sinh năm 1960; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

3/ Ông Nguyễn Thành D1 sinh năm 1970; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n; (vắng mặt).

4/ Ông Nguyễn Thành T sinh năm 1973; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

5/ Ông Nguyễn Thành B sinh năm 1974; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n; Có mặt

6/ Bà Nguyễn Thị Thanh T1 sinh năm 1977; Địa ch : số Đ phường B, qu n B, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

7/ Ông Nguyễn Thành N sinh năm 1984; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (vắng mặt).

8/ Bà Võ Thị N1, sinh năm 1970; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n (có mặt).

9/ Bà Hứa Thị D2, sinh năm 1959 v ông Nguyễn K sinh năm 1959; Địa ch : khu phố P, thị trấn P, huyện T, Bình Thu n – Ông K do bà D2 đại diện theo uỷ quyền (có mặt).

10/ UBND huyện T: Ông ùi Đắc Đ – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện T đại diện theo uỷ quyền (vắng mặt).

11/ UBND thị trấn P Cửa: Ông Nguyễn Duy K1 – Công chức Địa chính, Xây dựng đại diện theo uỷ quyền (có mặt).

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thành D và Bà Võ Thị N1; kháng cáo ngày 14/10/2024.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Thành D và Bà Võ Thị N1: Lu t sư Đỗ Minh T2 – Văn phòng L1 thuộc Đo n lu t sư t nh B.

N I DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Nguyễn Thành V trình bày như sau:

Cha ông tên Nguyễn Q sinh năm 1940 (đã chết năm 2008) v mẹ ông tên Nguyễn Thị 1 sinh năm 1942 (đã chết năm 2015). Cha mẹ ông có 09 người con gồm: Nguyễn Thị Thanh L, Nguyễn Th nh D, Nguyễn Thị Thanh X, Nguyễn Thành T, Nguyễn Th nh , Nguyễn Th nh D1, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thành V và Nguyễn Th nh N. Ngo i ra cha mẹ ông hông có con riêng hay con nuôi.

Cha mẹ ông chết hông có để lại di ch c t i sản do cha mẹ ông để lại l quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05 tờ 68 với diện tích 564 4m² đất tọa lạc tại hu phố P thị trấn P huyện T t nh nh Thu n. Hiện nay thửa đất n y chưa được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng cho ai ông Nguyễn Th nh D l người đang quản l đối với thửa đất n y.

Năm 2021 ông cùng với các anh chị em của ông yêu cầu anh D chia di sản thừa ế l quyền sử dụng đất do cha mẹ để lại nhưng anh D hông đồng chia m cho rằng thửa đất số 05 tờ 68 với diện tích 564 4m² đất n y l của riêng ông D. Vì v y ông cùng các anh chị em có gửi đơn đến Ủy ban nhân dân thị trấn P yêu cầu hòa giải 02 lần v o các ng y 05/11/2021 v ng y 13/01/2022 nhưng ết quả hòa giải hông th nh.

Do đó theo quy định tại Điều 651 của ộ lu t dân sự th h ng thừa ế thứ nhất của cha mẹ ông gồm 09 người con có tên trên. V v y di sản l quyền sử dụng đất với thửa đất số 05 tờ 68 với diện tích 564 4m² đất trên phải được chia cho 09 người con mỗi người được chia theo ỷ phần thừa ế l : 564 4m²: 9 = 62 71m². Nếu hông chia được đất th chia bằng giá trị đất. Ai nh n nh đất th ho n giá trị theo ỷ phần cho những người còn lại.

Ông thống nhất diện tích 553,1m² mà Hội đồng thẩm định đo lại thay vì diện tích trước đây l 564 4m². Thống nhất lấy giá Công ty thẩm định giá để l m căn cứ giải quyết phân chia. iá đất l 3.362.294.900đ v giá công tr nh xây dựng trên đất gồm: nhà tạm diện tích 18m²; mái tạm 14,3m²; nhà xây 27,5m² và nhà vệ sinh 15,4m². Tổng cộng l 80.256.000đ.

Ông xin nh n quản l sử dụng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05 tờ 68 với diện tích 553 1m² v sở hữu to n bộ t i sản trên đất tọa lạc tại hu phố P thị trấn P huyện T t nh nh Thu n v ông ho n lại giá trị theo ỷ phần cho những người còn lại.

- Bị đơn ông Nguyễn Thành D và người đại diện theo ủy quyền ông Lương Công Hữu Đ1 trình bày:

Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05, tờ 68, với diện tích 553,1m² và toàn bộ tài sản trên đất, tọa lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, t nh Bình Thu n. Đất này do vợ chồng ông D mua lại của vợ chồng bà Hứa Thị D2, ông Nguyễn K v o năm 1996 với 26.000.000đồng và có l p hợp đồng chuyển nhượng v đến l p Vi bằng tại Văn phòng L1 và xây dựng công tr nh trên đất để sử dụng, trong quá trình sử dụng ông D có đóng thuế đất qua các năm. Nguyên đơn cho rằng đất có nguồn gốc do cha mẹ tạo l p nhưng hông có chứng cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành V.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Thanh L, bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Thành B, bà Nguyễn Thị Thanh T1 thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Thành V, ông bà không khai bổ sung và yêu cầu g thêm. Đề nghị Tòa án giải quyết theo yêu cầu của ông V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị D2 trình bày:

Chồng bà (ông Nguyễn K) với mẹ ông Nguyễn Thành D có quan hệ là chị em cô c u ruột, bà không có mâu thuẫn gì với gia đ nh ông D. Vợ chồng bà không có đất bán cho ông D, ch mẹ chồng b có bán đất cho mẹ ông D tên Nguyễn Thị B1 l đất hiện 02 bên đang tranh chấp vào khoảng năm 1996 1997 b hông nhớ chính xác. Việc bán đất giao dịch tại nhà mẹ chồng bà (Nguyễn Thị B2), sau khi thống nhất bán thì bà B1 mẹ ông D đem tiền tới chồng tiền đất cho mẹ chồng bà, do bà mắt kém nên bà có kêu bà nh n v đếm giùm, bà có nh n tiền giùm cho mẹ chồng bà do bà B1 đưa rồi b đưa lại cho mẹ chồng. Sau đó mẹ ông D yêu cầu bà làm giấy nh n tiền, bà có ghi tay bằng tờ giấy học sinh nhưng bà B1 yêu cầu để tên con bà tên D vào giấy, thực chất ông D không có mặt ở đó. L do để tên ông D trong giấy là do bà B1 sợ sau này bà chết bên bán nói ngược và lấy lại đất.

Cách đây hoảng hơn 01 năm gia đ nh ông D có gọi bà lên nhà, rồi kêu lên Phòng Công chứng để ký giấy làm sổ đỏ, ông D nói do bà biết nguồn gốc đất và nh n tiền cho mẹ chồng b nên êu b lên hi đến công chứng nhân viên công chứng ch bà ký chổ nào thì bà ký chổ đó xong ông D mốc 02 cọc tiền trong túi quần ra cọc 200 ng n v 500 ng n đồng xoè ra biểu b gá tay vô để chụp hình nhưng b hông chịu, ông D và cô nhân viên Công chứng nói rằng không sao cô đừng sợ chụp để l m đủ thủ tục thôi, rồi b cũng cho chụp nhưng thực tế bà không nh n từ ông D một đồng xu nào.

Sở dĩ có iấy mua bán đất ng y 20/3/1996 To đưa cho bà xem là vì ông D nói giấy trước đây hông hợp lệ nên biểu làm lại giấy mua bán để hợp thức thủ tục làm sổ đỏ cho nên bà mới ghi lại theo mẫu giấy ông D đưa biểu bà phải ghi tên người bán là vợ chồng bà, bên mua là vợ chồng ông D, hai bên có ký vào giấy. Thực tế vợ chồng b hông có đất bán cho vợ chồng ông D. Giấy này làm lại cách đây hoảng 02 năm l c đó chưa tranh chấp. Ngoài ra bà không khai gì thêm, bà cam đoan lời khai của bà là sự th t, bà chịu trách nhiệm về lời khai của mình.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1 do bà Nguyễn Thị Thanh T3 đại diện theo ủy quyền trình bày:

Diện tích đất tranh chấp là do cha mẹ bà mua lại của vợ chồng bà Hứa Thị D2 v o năm 1996 sau khi mua cha mẹ bà xây dựng công tr nh trên đất gồm nhà ở, nhà vệ sinh sân trượt patin. Còn diện tích bà nội bà mua thì bà nội đã bán cho người khác. Bà thống nhất ý kiến của người đại diện cho ba bà, bà không có ý kiến gì thêm.

Đại diện UBND thị trấn P do ông Nguyễn Duy K1 trình bày:

Vị trí hu đất diện tích 564,4m² theo bản đồ Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030, tầm nh n đến năm 2050 của huyện T được UBND t nh phê duyệt tại Quyết định số 200/QĐ-U ND ng y 30/01/2023 được quy hoạch vào mục đích đất ở tại đô thị. Theo bản đồ đo đạc địa chính thì phần diện tích đất tranh chấp 564,4m² thuộc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 68 đã được Sở T i nguyên v Môi trường ký xác nh n vào ngày 27/12/2007 quy chủ sử dụng ông Nguyễn Thành D; thửa đất trên từ trước đến nay chưa được người sử dụng đất ê hai đăng để được cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy định. Việc quy chủ ch để quan lý và xác nh n người nộp thuế đất.

Diện tích đất tranh chấp nêu trên đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy định của Lu t Đất đai 2013 v Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Việc cấp Giấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho người có đủ điều kiện sẽ được căn cứ vào nguồn gốc đất và kết quả giải quyết của Tòa án.

- UBND huyện T: Tại Công văn số 2069/U ND-NC của U ND huyện T về việc cung cấp thông tin cho Tòa án giải quyết vụ án do ông Nguyễn Th nh V khởi iện ông Nguyễn Th nh D. Kết quả iểm tra xác minh:

+ Nguồn gốc quá tr nh sử dụng đất: Diện tích 564 4 m2 đất tại thửa đất số 05 tờ bản đồ số 68 tọa lạc tại hu phố P thị trấn P huyện T có nguồn gốc do vợ chồng ông Nguyễn S và bà Nguyễn Thị 2 tạo l p trước năm 1970 để canh tác sản xuất nông nghiệp (trồng dừa) đến năm 1996 chuyển nhượng lại cho vợ chồng b Nguyễn Thị 1, ông Nguyễn Q xây dựng nh ở v giao lại cho ông Nguyễn Th nh D ở quản l đến năm 2008 ông Nguyễn Q mất v tiếp tục năm 2016 th b Nguyễn Thị 1 mất hông để lại di ch c đến năm 2021 th phát sinh tranh chấp giữa ông Nguyễn Th nh V và ông Nguyễn Th nh D.

- Quá tr nh ê hai đăng :

+ Vị trí hu đất diện tích 564 4 m2 nói trên theo bản đồ Quy hoạch sử dụng đất thời ỳ 2021-2030 tầm nh n đến năm 2050 của huyện T được U ND t nh phê duyệt tại Quyết định số 200/QĐ-UBND ngày 30/01/2023 được quy hoạch v o mục đích đất ở tại đô thị.

+ Theo bản đồ đo đạc địa chính th phần diện tích đất tranh chấp 564 4 m thuộc thửa đất số 05 tờ bản đồ số 68 đã được Sở T i nguyên v Môi trường xác nh n v o ng y 27/12/2007 quy chủ sử dụng ông Nguyễn Th nh D; thửa đất trên từ trước đến nay chưa được người sử dụng đất ê hai đăng để được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy định.

+ Diện tích đất tranh chấp nêu trên đủ điều iện để được cấp iấy ch ng nh n quyền sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 101 Lu t Đất đai 2013 v Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Việc cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho người có đủ điều iện sẽ được căn cứ v o ết quả giải quyết của Tòa án nhân dân.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong và thông báo sữa chữa, bổ sung bản án số 03/TB-TA ngày 03/10/2024 đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 Điều 157 điểm b khoản 2 Điều 227 Điều 228 Bộ lu t Tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 650, 651, 660 Bộ Lu t dân sự; Điều 105, 167 Lu t đất đai năm 2013; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2009/NQ- U TVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nh n 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành V đối với ông Nguyễn Thành D về việc tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất.

Giao cho ông Nguyễn Thành V quyền sử dụng diện tích 442 5m²/553 1m² đất và sở hữu nhà tạm diện tích 18m², mái tạm 14,3m², nhà xây 27,5m² và nhà vệ sinh 15,4m² (ký hiệu số (1) tương ứng với mốc giới số 3, 4, 5, 6, 7, 8 tại mảnh ch nh lý) toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, t nh Bình Thu n (kèm mảnh ch nh số 68 ký ngày 24/10/2024);

Giao cho ông Nguyễn Thành D, bà Võ Thị N1 02 kỷ phần quyền sử dụng đất diện tích 110,6m²/553,1m² (ký hiệu số (2) tương ứng với mốc giới số 1, 2, 3, 8 tại mảnh ch nh lý) toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, t nh Bình Thu n (kèm mảnh ch nh số 68 ký ngày 24/10/2024);

Ông Nguyễn Thành V có nghĩa vụ hoàn cho bà Nguyễn Thị Thanh L, bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Thành B, ông Nguyễn Thành D1, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Thành N giá trị đất và công trình trên đất mỗi người l 344.255.000đồng ( a trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngh n đồng).

Ông Nguyễn Th nh V có nghĩa vụ ho n cho ông Nguyễn Th nh D, bà Võ Thị N1 16.051.000đồng (Mười sáu triệu hông trăm năm mươi mốt ng n đồng) giá trị t i sản trên đất.

Ông Nguyễn Thành V và ông Nguyễn Thành D tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng

ê hai cấp giấy chứng nh n theo quyết định của Toà án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo, quyền v nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp lu t.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

- Ngày 14/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Thành D v người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1 kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong. Nội dung kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và xét xử đánh giá chứng cứ thiếu khách quan nên yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn bị đơn v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung háng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm. Cho rằng do gia đ nh mâu thuẫn với bà D2 nên bà D2 thay đổi lời khai.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp lu t trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và quan điểm giải quyết vụ án:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đ ng theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp h nh đ ng quyền v nghĩa vụ theo quy định của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm đã đưa ông Nguyễn K và bà Hứa Thị Kim D2 tham gia tố tụng với tư cách l người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án l đ ng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS. Ông Nguyễn K đã ủy quyền cho bà Hứa Thị Kim D2 tham gia tố tụng; bà D2 đã thực hiện đ ng theo phạm vi được ủy quyền và thực hiện đ ng quyền v nghĩa vụ của người đại diện theo quy định tại Điều 85 BLTTDS.

Về việc triệu t p ông Võ Văn N2 và ông Võ Thành C tham gia phiên tòa với tư cách l người làm chứng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm các đương sự hông ai đề nghị đưa ông Võ Văn N2 và ông Võ Thành C vào tham gia tố tụng với tư cách l người làm chứng nên Tòa án sơ thẩm không triệu t p l đ ng theo quy định tại Điều 77 BLTTDS và không ảnh hưởng đến bản chất vụ án.

+ Về nội dung vụ án: căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định: diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị B1 nh n chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị B2. Vợ chồng bà B1, ông Q đã xây dựng nhà và ở, tạo l p tài sản trên đất v đã cho ông D quản lý, sử dụng tài sản trên đất một thời gian. Năm 2008, ông Q chết năm 2015 b B1 chết - hông để lại di chúc và ông D cũng không ở trên đất tranh chấp từ khi cha mẹ chết đến nay. Việc cơ quan quản l đất đai quy chủ đứng tên ông D l để quản lý việc nộp thuế đất không phải l căn cứ xác định nguồn gốc đất là của ông D. Do đó Tòa án sơ xác định thửa đất số thửa đất số 05/553,1m2 và tài sản trên đất là di sản do bà B1 và ông Q để lại và chia thừa kế có 09 đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất l đ ng quy định tại Điều 649, 650, 651 BLDS. Khi chia thừa kế đã tính công sức quản lý, tôn tạo di sản cho vợ chồng ông D tương đương 01 ỷ phần thừa kế; giao cho ông D, ông V được nh n hiện v t phải hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế hác l đ ng quy định tại Điều 661 BLDS.

Nay ông D và bà N2 háng cáo nhưng hông cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho yêu cầu háng cáo l có căn cứ nên hông được chấp nh n. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự, không chấp nh n kháng cáo của bị đơn người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong.

NH N ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo trong thời hạn, đ ng thủ tục pháp lu t quy định nên vụ án được xem xét theo thủ tục phúc thẩm;

Tòa án sơ thẩm xác định quan hệ pháp lu t tranh chấp và giải quyết l đ ng quy định tại khoản 2 và khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

[2] Về kháng cáo: Hội đồng xét xử nh n thấy:

[2.1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án sơ thẩm đã đưa ông Nguyễn K và bà Hứa Thị Kim D2 tham gia tố tụng với tư cách l người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án l đ ng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS. Ông Nguyễn K đã ủy quyền cho bà Hứa Thị Kim D2 tham gia tố tụng; bà D2 đã thực hiện đ ng theo phạm vi được ủy quyền và thực hiện đ ng quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo quy định tại Điều 85 BLTTDS, nên không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

[2.2] Về quan hệ thừa kế: ông Nguyễn Q sinh năm 1940 (đã chết năm 2008) và bà Nguyễn Thị B1 sinh năm 1942 (đã chết năm 2015) có 09 người con gồm: Nguyễn Thị Thanh L, Nguyễn Thành D, Nguyễn Thị Thanh X, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành B, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thành V và Nguyễn Thành N. Ngoài ra ông Q và bà B1 không có con riêng và con nuôi, khi chết hông để lại di ch c. Như v y căn cứ theo Điều 613 Điều 651 Bộ lu t dân sự 2015 th người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Q và bà Nguyễn Thị B1 gồm 09 người: Nguyễn Thị Thanh L, Nguyễn Thành D, Nguyễn Thị Thanh X, Nguyễn Thành T, Nguyễn Thành B, Nguyễn Thành D1, Nguyễn Thị Thanh T1, Nguyễn Thành V và Nguyễn Thành N.

[2.3] Về di sản thừa ế tranh chấp: quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 05 tờ 68 với diện tích 553 1m² đất tọa lạc tại hu phố P thị trấn P huyện T t nh nh Thu n v các t i sản trên đất (Một ngôi nh tạm diện tích 18 m2; Một mái tạm diện tích 14,3 m2; Một nh xây diện tích 27.5 m2; Một nh vệ sinh diện tích 15 4 m2). Theo chứng thư thẩm định giá ng y 05/4/2024 của Công ty Cổ phần T4 - Chi nhánh B3. Diện tích đất có giá trị l 3.362.294.900 đồng (tức 6.079.000đ/m²) v tổng giá công tr nh xây dựng trên đất 80.256.000đ. Tổng cộng: 3.442.551.000 đồng. Hiện nay thửa đất n y chưa được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng cho ai ông Nguyễn Th nh D l người đang quản l đối với thửa đất v t i sản trên đất.

[3] Quá tr nh giải quyết vụ án lời hai của nguyên đơn ông Nguyễn Thành V v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan l các anh chị em của nguyên đơn v bị đơn cho rằng diện tích 553 1m² tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ mua lại của người hác v to n bộ t i sản trên đất l do cha mẹ tạo l p để lại hi cha mẹ chết chưa phân chia. Lời hai của những người n y phù hợp với các t i liệu chứng cứ có trong hồ sơ v ết quản l đất đai của cơ quan có thẩm quyền cụ thể:

[3.1] Công văn số 2069/U ND-NC ng y 30/7/2024 của U ND huyện T về việc cung cấp thông tin cho Tòa án giải quyết vụ án do ông Nguyễn Th nh V hởi iện ông Nguyễn Th nh D với nội dung: Diện tích 564 4 m2 đất tại thửa đất số 05, tờ bản đồ số 68 tọa lạc tại hu phố P thị trấn P huyện T có nguồn gốc do vợ chồng ông Nguyễn S và bà Nguyễn Thị 2 tạo l p trước năm 1970 để canh tác sản xuất nông nghiệp (trồng dừa) đến năm 1996 chuyển nhượng lại cho vợ chồng b Nguyễn Thị 1, ông Nguyễn Q xây dựng nh ở v giao lại cho ông Nguyễn Th nh D ở quản l đến năm 2008 ông Nguyễn Q mất v tiếp tục năm 2016 th b Nguyễn Thị 1 mất hông để lại di ch c đến năm 2021 th phát sinh tranh chấp giữa ông Nguyễn Th nh V và ông Nguyễn Th nh D.

[3.2] Giấy bán đất viết tay ghi ngày 25/01/2005 có chữ ký của ông Nguyễn Q, bà Nguyễn Thị B1 và ông Nguyễn Đ nh H thể hiện nội dung: ông Nguyễn Q, bà Nguyễn Thị B1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Đình H, bà Nguyễn Thị Hương D3 mảnh đất tại xóm I xã H với diện tích ngang 12,5m dài 22m.

[3.3] Biên bản xác minh ngày 26/4/2025 của Tòa án nhân t nh Bình Thu n tại Phòng Nông nghiệp v Môi trường huyện T thể hiện: diện tích nguồn gốc đất tranh chấp ban đầu là 839,4m2 của vợ chồng ông Nguyễn S, bà Nguyễn Thị B2 (cha mẹ ông K) tạo l p trước năm 1970 chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà Nguyễn Thị B1 và ông Nguyễn Q v o năm 1996. Sau năm 2004 vợ chồng bà B1 chuyển nhượng một phần diện tích 275m2 cho vợ chồng ông H; phần diện tích còn lại đang hởi kiện tại Tòa án.

[3.4] U ND huyện T cũng như U ND thị trấn Phan Rí C1 đã xác định phần diện tích đất tranh chấp đã được Sở T5 xác nh n v o ng y 27/12/2007 quy chủ sử dụng ông Nguyễn Th nh D; thửa đất trên từ trước đến nay chưa được người sử dụng đất ê hai đăng để được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy định. Việc quy chủ ch để quản l v xác nh n người nộp thuế đất. Diện tích đất tranh chấp nêu trên đủ điều iện để được cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất theo quy định của Lu t Đất đai 2013 v Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Việc cấp iấy chứng nh n quyền sử dụng đất cho người có đủ điều iện sẽ được căn cứ v o nguồn gốc đất v ết quả giải quyết của Tòa án.

[4] Trong quá tr nh giải quyết cũng như tại phiên tòa b Hứa Thị Kim D2 đều hẳng định diện tích đất v các t i sản trên đất m các bên tranh chấp có nguồn gốc l của cha mẹ chồng b bán lại cho cha mẹ ông D. Việc bán đất giao dịch tại nh mẹ chồng b (Nguyễn Thị 2), bà B1 mẹ ông D đem tiền tới chồng tiền đất. Sau đó mẹ ông D yêu cầu b l m giấy nh n tiền b có ghi tay bằng tờ giấy học sinh nhưng b B1 yêu cầu để tên con b tên D v o giấy thực chất ông D không có mặt ở đó. Việc b

v o tờ giấy mua bán đất v Tờ Vi bằng số 945/2021/V -TPL ng y 12/11/2021 của Văn phòng L1 là do ông D nói giấy trước đây hông hợp lệ nên nhờ b

lại giấy tờ để hợp thức hóa hồ sơ l m sổ đỏ biểu b phải ghi tên người bán l vợ chồng b bên mua l vợ chồng ông D hai bên có v o giấy giấy n y l m lại cách đây hoảng 02 năm l c đó chưa tranh chấp.

Đối chiếu với chứng có có trong hồ sơ vụ án nh n thấy lời hai của b D2 là có cơ sở việc

Giấy mua bán đất v l p Vi bằng ghi nh n số tiền 26.000.000đ l được l p sau n y hông phải l v o thời điểm năm 1996.

[5] ị đơn ông Nguyễn Th nh D và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng diện tích đất n y do ông D mua của ông Nguyễn K và bà Hứa Thị D2 v o ng y 20/3/1996. Để chứng minh lời hai của m nh ông D xuất tr nh cho To Tờ Vi bằng số 945/2021/V -TPL ng y 12/11/2021 của Văn phòng L1; iấy mua bán đất ng y 20/3/1996 biên lai thu thuế đất v cho rằng do gia đ nh mâu thuẫn với b D2 nên bà D2 thay đổi lời hai.

Như đã phân tích nêu trên chứng cứ ông D cung cấp hông phù hợp với thời gian diễn ra vụ việc v các t i liệu chứng cứ hác có trong hồ sơ nên hông được xem l chứng cứ chứng minh t i sản tranh chấp l của ông D. Tại phiên tòa ph c thẩm ông D cung cấp iấy bán đất viết tay của b Nguyễn Thị Ú nhưng giấy n y thể hiện nội dung l : b Nguyễn Thị Ú bán 300m đất cho chị Nguyễn Thị 1; nguồn gốc đất cha mẹ l ông Nguyễn S1 và bà Nguyễn Thị 2 cho bà Ú. Như v y diện tích đất tranh chấp vẫn l do cha mẹ ông D nh n chuyển nhượng hông phải l của ông D. Ngoài ra, ông D hông cung cấp được chứng cứ hác thể hiện đất l do ông nh n chuyển nhượng hoặc hi cha mẹ còn sống đã tặng cho ông.

[6] Như v y như phân tích đánh giá chứng cứ ở trên, ngoài lời khai của bà D2 còn có nhiều chứng cứ hác có cơ sở để xác định diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị B1 nh n chuyển nhượng từ bà Nguyễn Thị B2. Vợ chồng bà B1, ông Q đã xây dựng nhà và ở, tạo l p tài sản trên đất và có cho ông D quản lý, sử dụng tài sản trên đất một thời gian. Năm 2008 ông Q chết năm 2015 b B1 chết - không để lại di chúc và ông D cũng hông ở trên đất tranh chấp từ khi cha mẹ chết đến nay. Việc cơ quan quản l đất đai quy chủ đứng tên ông D l để quản lý việc nộp thuế đất không phải l căn cứ xác định nguồn gốc đất là của ông D. Do đó Tòa án sơ thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 612 Bộ lu t dân sự 2015 xác định thửa đất số thửa đất số 05/553,1m2 và tài sản trên đất là di sản do bà B1 và ông Q để lại và chia thừa kế có 09 đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất là đ ng quy định tại Điều 649, 650, 651 BLDS. Khi chia thừa kế đã tính công sức quản lý, tôn tạo di sản cho vợ chồng ông D tương đương 01 ỷ phần thừa kế; giao cho ông D, ông V được nh n hiện v t phải hoàn tiền lại cho các đồng thừa kế khác l đ ng quy định tại Điều 661 BLDS.

[7] Xét ý kiến tranh lu n của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn bị đơn tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử nh n thấy: Cấp sơ thẩm không vi phạm thủ tục tố tụng, đã đánh giá chứng cứ khách quan. Những người tham gia tố tụng trong vụ án được công khai tiếp c n chứng cứ, tham gia hòa giải, tham gia phiên tòa đảm bảo quyền tranh lu n tại phiên tòa. Nay ông Nguyễn Thành D và Bà Võ Thị N1 háng cáo nhưng hông cunng cấp được tài liệu, chứng cứ nào mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình nên hông có cơ sở để chấp nh n kháng cáo.

[8] Từ những nh n định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong, t nh Bình Thu n như iến của Viện kiểm sát nhân dân t nh Bình Thu n là phù hợp.

[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn Ông Nguyễn Thành D và Bà Võ Thị N1 l người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không được chấp nh n nên Ông Nguyễn Thành D và Bà Võ Thị N1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ lu t Tố tụng dân sự;

Không chấp nh n yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị N1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuy Phong, t nh Bình Thu n.

[2] Căn cứ: Khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147 Điều 157 điểm b khoản 2 Điều 227 Điều 228 Bộ lu t Tố tụng dân sự; Điều 357, khoản 2 Điều 468, Điều 650, 651, 660 Bộ Lu t dân sự; Điều 105, 167 Lu t đất đai năm 2013; điểm a khoản 7 Điều 27; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2009/NQ- U TVQH14 ng y 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng và quản lý án phí, lệ phí Tòa án.

[3] Tuyên xử: Chấp nh n yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành V.

Giao cho ông Nguyễn Thành V quyền sử dụng diện tích 442,5m²/553,1m² đất và sở hữu nhà tạm diện tích 18m², mái tạm 14,3m², nhà xây 27,5m² và nhà vệ sinh 15,4m² (ký hiệu số (1) tương ứng với mốc giới số 3, 4, 5, 6, 7, 8 tại mảnh ch nh lý) toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, t nh Bình Thu n (kèm mảnh ch nh số 68 ký ngày 24/10/2024);

Giao cho ông Nguyễn Thành D, bà Võ Thị N1 02 kỷ phần quyền sử dụng đất diện tích 110,6m²/553,1m² (ký hiệu số (2) tương ứng với mốc giới số 1, 2, 3, 8 tại mảnh ch nh lý) toạ lạc tại khu phố P, thị trấn P, huyện T, t nh Bình Thu n (kèm mảnh ch nh số 68 ký ngày 24/10/2024);

Ông Nguyễn Thành V có nghĩa vụ hoàn cho bà Nguyễn Thị Thanh L, bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Thành B, ông Nguyễn Thành D1, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Thành N giá trị đất và công trình trên đất mỗi người l 344.255.000đồng ( a trăm bốn mươi bốn triệu hai trăm năm mươi lăm ngh n đồng).

Ông Nguyễn Thành V có nghĩa vụ hoàn cho ông Nguyễn Thành D, bà Võ Thị N1 16.051.000đồng (Mười sáu triệu hông trăm năm mươi mốt ng n đồng) giá trị tài sản trên đất.

Ông Nguyễn Thành V và ông Nguyễn Thành D tự liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng

ê hai cấp giấy chứng nh n theo quyết định của Toà án.

[4] Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh L, bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Thành B, ông Nguyễn Thành D1, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Thành N và ông Nguyễn Thành D mỗi người phải hoàn trả cho ông Nguyễn Thành V số tiền 1.675.000đồng (Một triệu sáu trăm bảy mươi lăm ng n đồng).

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh L, bà Nguyễn Thị Thanh X, ông Nguyễn Thành D1, ông Nguyễn Thành T, ông Nguyễn Thành B, bà Nguyễn Thị Thanh T1, ông Nguyễn Thành N và ông Nguyễn Thành V mỗi người phải nộp 17.213.000đồng (Mười bảy triệu hai trăm mười ba ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Thành V đã nộp 5.560.000đồng (Năm triệu năm trăm sáu mươi ng n đồng) tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0003739 ngày 12/8/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Tuy Phong, nên ông Nguyễn Thành V nộp thêm 11.653.000đồng (Mười một triệu sáu trăm năm mươi ba ng n đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Nguyễn Thành D phải nộp 31.540.000đồng ( a mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi ng n đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành D và bà Võ Thị N1 mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Thành D và bà Võ Thị N1 mỗi người đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0007105, 0007106 ngày 16/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong. Ông Nguyễn Thành D và bà Võ Thị N1 đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

[7] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể từ ngày tuyên án (16/5/2025).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo quy định tại Điều 2 Lu t thi hành án dân sự th người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thu n thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lu t thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ