vanban.org

Bản án 99/2024/HSST — Hình sự

TAND huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 25/11/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Các bị cáo K’ S, K’ Q, Ka H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Xử phạt bị cáo Phan Văn L 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - không phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 318 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO L
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HSST
Ngày: 25- 11 -2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO L, TỈNH LÂM ĐỒNG

Với T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tài.

Bà Đỗ Thị Thƣơng Huyền.

Thư ký phiên tòa: Ông Trƣơng Quang Vũ – Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 28/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 11/11/2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Phan Văn L; Sinh ngày: 21/5/1993 tại tỉnh Đồng Nai.

NKTT: Thôn 10, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở: thôn 01, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không.

Con ông: Phan Văn Chuyền, sinh năm 1967; con bà Tô Thị Hồng, sinh năm 1969, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Vợ: Nguyễn Thị Ngọc Huyền, sinh năm: 1997, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2024 cho đến nay tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

2. Họ và tên: K’ S; Sinh ngày: 03/3/1996 tại tỉnh Lâm Đồng.

NKTT và chỗ ở: thôn 02, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo.

Con ông: K’ Khoen, sinh năm 1969, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; con bà Ka M Húp, sinh năm 1964 (đã chết).

Vợ: Ka Châm, sinh năm 1998, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024 cho đến nay tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

3. Họ và tên: K’ Q; Sinh ngày: 01/01/1989 tại tỉnh Lâm Đồng.

NKTT và chỗ ở: thôn 02, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo.

Con ông: K’ Khoen, sinh năm 1969, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; con bà Ka M Húp, sinh năm 1964 (đã chết).

Vợ: Nguyễn Thị Xỉu, sinh năm 1990, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2011.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024 cho đến nay tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

4. Họ và tên: Ka H; Sinh ngày: 15/4/1994 tại tỉnh Lâm Đồng.

NKTT và chỗ ở: thôn 02, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cơ Ho; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Công giáo.

Con ông: K’ Khoen, sinh năm 1969, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng; con bà Ka M Húp, sinh năm 1964 (đã chết).

Chồng: K’Suyn, sinh năm 1989, hiện trú tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024 cho đến nay tại xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

( Các bị cáo có mặt tại phiên tòa ).

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn L: Luật sư Trịnh Duy T – Công ty luật trách nhiệm hữu hạn Đức Khang – Đoàn luật sư thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ: 1806/127/70 Huỳnh Tấn Phát, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh ( Có mặt ).

* Người bào chữa cho bị cáo K’ S: Ông Vũ Cát Đ- là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lâm Đồng. Địa chỉ: Số 31A Lê Hồng Phong, phường 1, Tp. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

* Người bị hại: Anh K’ Q, sinh năm: 1989

Địa chỉ: thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

* Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phan Văn T, sinh năm: 1991

Địa chỉ: thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ).

2. Anh K’ S, sinh năm: 1996

Địa chỉ: thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

3. Anh Phan Văn L; sinh năm: 1993

NKTT: Thôn 10, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Chỗ ở: thôn 01, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Có mặt ).

* Người làm chứng:

1. Anh K’ S, sinh năm: 1989

Địa chỉ: thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).

2. Anh Cao T H, sinh năm: 1988

Địa chỉ: thôn 10, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).

3. Anh Âu Bá T, sinh năm: 2002

Địa chỉ: thôn 10, xã Lộc Thành, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng ( Vắng mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 05/11/2023, Phan Văn Lợi ngồi ăn uống cùng một số bạn bè tại quán Muối Ớt thuộc thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, K’Nguyên, sinh năm: 1996; HKTT: thôn 3, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm (bạn của Lợi) đi cùng với Ka Châm, sinh năm: 1998; HKTT: thôn 2, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm và một người nữ vào trong quán và ngồi kế bên bàn của Lợi. Khi Lợi tính tiền cả hai bàn xong định đi về thì K’Nguyên mời Lợi lại uống một ly nên Lợi ngồi xuống bàn K’ Nguyên và uống rượu với K’Nguyên. Lúc này K’Sĩ (chồng của Ka Châm) từ nhà đi mua rượu, khi đi ngang qua quán Muối Ớt, thấy Ka Trâm ngồi cùng với Lợi và K’Nguyên nên K’Sĩ bực tức đi vào trong quán nắm lấy tóc Ka Châm lôi ra chỗ khác và đánh nhiều cái vào mặt Ka Châm. Lợi thấy vậy ra can ngăn thì bị K’Sĩ chửi, K’Sĩ cho rằng Lợi có tình ý với Ka Châm nên Lợi tức giận dùng tay tát vào mặt K’Sĩ một cái, sau đó được mọi người can ngăn nên Lợi đi về quán bi-da Phan Lợi của mình ở thôn 1, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, còn K’Sĩ chở Ka Châm đi về nhà.

Về phía K’Sĩ khi đưa Ka Châm về nhà xong thì đi đến nhà K’Quỳnh (anh trai của K’Sĩ), K’Sĩ không vào nhà mà đứng ở sân nói to cho K’Quỳnh nghe về việc bị Lợi đánh, sau đó rủ K’Quỳnh đi tìm Lợi đánh thì K’Quỳnh đồng ý, sau đó K’Sĩ chở K’Quỳnh lên quán Muối Ớt tìm Lợi nhưng không thấy nên cả hai đến quán bi-da của Lợi. Lúc K’Sĩ đến rủ K’Quỳnh thì Ka Hên (chị ruột của K’Sĩ, nhà ở sát bên nhà K’Quỳnh) nghe thấy, Ka Hên sợ K’Quỳnh và K’Sĩ say rượu gây chuyện nên bảo chồng là K’Suyn chở Ka Hên đi xuống quán Lợi để xem sự việc.

Khi K’Sĩ và K’Quỳnh đến quán bi-da thấy Lợi đang ngồi cùng với anh Cao Thanh Hải và Âu Bá Thành ở bộ bàn ghế đá đặt trước cửa quán bi-da Phan Lợi, K’Quỳnh đi đến chỗ Lợi hỏi về việc Lợi đánh K’Sĩ trước đó rồi dùng tay bóp cổ Lợi và đấm vào mặt Lợi nhiều cái làm Lợi bị thương ở đầu chảy máu, còn K’Sĩ thì chửi bới Lợi; Hải và Thành thấy vậy đứng dậy can ngăn đẩy K’Quỳnh và K’Sĩ ra xa chỗ Lợi nhưng K’Quỳnh và K’Sĩ vẫn xông tới đòi đánh Lợi.

Lúc này, Phan Văn Thắng (anh trai của Lợi) đang ở trong quán bida, nghe tiếng ồn ào bên ngoài, Thắng nhìn ra thấy Lợi bị đánh nên cầm cơ bida chạy ra. Hải và Thành can ngăn nên Thắng đi vào lại trong nhà. Sau đó K’Quỳnh và K’Sĩ tiếp tục chửi bới và xông đến đòi đánh Lợi nên Thắng lại cầm cơ chạy ra; Hải và Thành đã can ngăn nhưng K’Quỳnh vẫn xông tới đấm Lợi một cái nên Thắng cầm cây cơ bida đánh về phía K’Quỳnh nhưng không trúng mà trúng vào vai của Hải, sau đó Hải và Thành vừa đẩy Lợi và Thắng vào trong nhà vừa đẩy K’Quỳnh và K’Sĩ ra ngoài đường. Khi K’Quỳnh và K’Sĩ bị đẩy ra ngoài đường thì tiếp tục chửi bới Lợi, K’Quỳnh cầm mũ bảo hiểm định xông vào quán nên Hải và Thành đứng chặn ở cửa ra vào không cho vào trong quán. Khi Lợi và Thắng bị đẩy vào trong quán thì Lợi gọi điện cho Nguyễn Thị Ngọc Huyền (vợ của Lợi) nói Huyền báo công an, còn Thắng thấy có nhiều người kéo đến thì đi ra phía sau tìm mấy cây cơ bida bị hư, gãy để làm vũ khí tự vệ.

Khi K’Suyn chở Ka Hên đến quán Lợi. Ka Hên thấy Hải và Thành đứng trước cửa quán, còn K’Quỳnh và K’Sĩ đứng ở ngoài đường, Ka Hên đi vào trong quán chửi bới Lợi. Lúc đó Lợi đang gọi điện cho Huyền (vợ Lợi) nên không trả lời Ka Hên. K’Suyn và ông Phan Trọng Anh (hàng xóm của Lợi) khuyên can Ka Hên nhưng Ka Hên không nghe mà tiếp tục chửi bới Lợi nhiều hơn. Lúc này Thắng cầm đoạn cơ bị gãy đi lên, Ka Hên thấy Thắng thì quay sang chửi Thắng; K’Suyn và Phan Trọng Anh sợ Thắng nổi nóng nên đẩy Thắng đi vào trong phòng bi-da khác (phòng này để riêng một bàn bi-da chuyên đánh 3 băng), thấy Thắng đi vào phòng thì Ka Hên lại tiếp tục quay sang chửi Lợi; Lợi lúc này bực tức nên cởi áo vứt lên bàn bi-da và đi đến chỗ bếp lấy cây kéo cầm ở trên tay đi đến chỗ Ka Hên với mục đích hù dọa Ka Hên để Ka Hên không chửi nữa. K’Suyn thấy Lợi nổi nóng nên lôi Ka Hên ra ngoài nhưng Ka Hên tiếp tục đứng ngoài chửi bới Lợi. Lúc này K’Quỳnh và K’Sĩ cũng tiếp tục chửi bới và đòi vào trong quán đánh Lợi nhưng mọi người bên ngoài ngăn lại. Sau đó K’Quỳnh chạy vào trong quán lấy một cây cơ cầm ra đứng trước quán và thách thức Lợi đánh nhau nhưng được mọi người can ngăn đẩy K’Quỳnh ra ngoài đường. K’Sĩ đi đến giật lấy cây cơ trên tay K’Quỳnh xông vào đánh Lợi nhưng không trúng, Thắng thấy vậy nên cầm cơ đánh lại K’Sĩ nhưng không trúng. Sau đó Thắng và Lợi chạy đến chỗ K’Sĩ thì bị K’Sĩ dùng cơ bi-da đánh, lúc này K’Quỳnh cầm ghế nhựa xông vào trong phụ giúp K’Sĩ; K’Quỳnh lấy cây cơ trên bàn bi-da đập về phía Lợi nhưng không trúng mà trúng xuống nền nhà làm cây cơ bị gãy; Ka Hên cũng xông vào giúp K’Sĩ; mọi người ở trong quán và ngoài quán xúm vào can ngăn, xô đẩy Lợi và K’Sĩ vào sát bờ tường; Lợi dùng kéo đâm về phía K’Sĩ 2-3 cái trúng vào người K’ Sĩ thì K’ Sĩ khom người dơ tay, chân ra đỡ, sau đó mọi người can ngăn đẩy Lợi và Thắng vào sâu trong nhà, còn K’Quỳnh và K’Sĩ bị đẩy ra ngoài cửa quán. Khi ra khỏi cửa, K’Quỳnh tiếp tục cầm ghế nhựa thách thức Lợi và Thắng. Lợi đi ra thì K’Quỳnh bỏ chạy ra đường, Thắng thấy K’Quỳnh bỏ chạy nên Thắng đi theo cửa ra vào bên phía bán hàng tạp hóa (quán bi-da có hai cửa ra vào) đi ra ngoài đường định tấn công lén K’Quỳnh; Thắng giơ cây cơ đập về phía K’Quỳnh nhưng bị trượt chân té ngã xuống đất; K’Quỳnh cầm ghế xông đến tấn công Thắng, Thắng nhổm người dậy bỏ chạy thì K’Quỳnh đuổi theo; Lợi thấy K’Quỳnh đuổi đánh Thắng nên xông đến chặn trước mặt K’Quỳnh và dùng kéo đâm về phía K’Quỳnh một nhát, sau đó K’Quỳnh và Lợi tiếp tục xô xát với nhau. Mọi người xúm vào can ngăn nên sự việc dừng lại, K’Quỳnh và K’Sĩ được mọi người đưa đến Bệnh viện II Lâm Đồng cấp cứu. Lợi gọi điện báo cho công an xã Lộc Nam, rồi đi lên trạm y tế xã Lộc Nam khâu vết thương sau đó đến Công an xã Lộc Nam làm việc.

Hậu quả:

+ K’ Quỳnh bị 01 vết thương hạ vị 01cm x 0,5cm phòi mạc nối; 01 vết thương sườn lưng trái kích thước 01cm x 0,5cm xì khí qua vết thương; 01 vêt thương sườn lưng phải kích thước 01cm x 0,5cm.

+ K’ Sĩ bị 01 vết thương gối trái 05cm; 01 vết thương hạ sườn trái kích thước 02cm; 01 vết thương cổ tay trái 01cm; 01 vết thương trán 01cm.

+ Phan Văn Lợi bị 01 vết thương trán phải 2,5cm; bầm tím mắt trái, sưng nề xung quang; sung nề cẳng tay trái kích thước 02cm x 02cm; tím, đau vùng lưng + hông bên trái.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 638, 639, 640/KLTTCT-PYLĐ ngày 11/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của K’Quỳnh tại thời điểm giám định là 56%, tổn thương do vật sắc nhọn gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của K’Sĩ tại thời điểm giám định là 08%; tổn thương do vật sắc gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Văn Lợi tại thời điểm giám định là 03%; tổn thương do vật tày có cạnh gây nên.

Ngày 11/4/2024, Ủy ban nhân dân xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm có công văn số 70/UBND xác định hành vi của K’ Quỳnh, K’ Sĩ và Ka Hên trong vụ việc trên gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.

Ngày 02/12/2023, K’Sĩ đã viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình.

Ngày 05/01/2024, Phan Văn Lợi có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không thắc mắc, không khiếu nại hay tranh luận gì.

Người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại K’ Quỳnh yêu cầu bị cáo Phan Văn Lợi bồi thường thêm 3.000.000 đồng bị cáo Lợi đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm

Cáo trạng số 65/CTr-VKSBL ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Văn Lợi về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự; bị cáo K’ Sĩ, K’ Quỳnh về tội “Gây rối trật tự công cộng ” theo điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Ka Hên về tội “Gây rối trật tự công cộng ” theo khoản 1 điều 318 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn L từ 36 đến 42 tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo K’ S từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Xử phạt bị cáo K’ Q từ 24 đến 30 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Ka H từ 06 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn Lợi đã bồi thường cho K’Sĩ số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho K’Quỳnh số tiền 148.000.000 đồng. K’Sĩ, K’Quỳnh và Ka Hên đã bồi thường cho Phan Văn Lợi số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại K’ Quỳnh yêu cầu bị cáo Lợi bồi thường 3.000.000 đồng bị cáo Lợi đồng ý, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử công nhận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm do vậy đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập đến.

- Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ

+ 01 cây kéo bằng kim loại có tổng chiều dài là 22,4cm; phần lưỡi kéo dài 11,4cm, chỗ rộng nhất của lưỡi kéo là 2,2cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ “MADE IN JAPAN SK5” và có bám dính vết màu đỏ (nghi là máu), mũi kéo nhọn; phần cán kéo bằng nhựa màu đỏ đen, dài 11cm, rộng 10cm.

+ 01 cây cơ bida bằng gỗ có tổng chiều dài 144,7cm, phần cán màu nâu đỏ, phần ngọn màu xanh xám; một đầu có đường kính là 1,2cm, một đầu có đường kính là 3cm.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 71,5cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,5cm bị vỡ nứt.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu đỏ, dài 75cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm bị vỡ khuyết.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu trắng, dài 72cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh, dài 72,3cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xám đen, dài 73cm; một đầu có đường kính là 1,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng gỗ.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 73,8cm; một đầu có đường kính là 1,1cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh xám, dài 73,2cm; một đầu có đường kính là 1,7cm; một đầu có đường kính là 2,2cm.

Đối với chiếc ghế nhựa màu đỏ K’Quỳnh sử dụng để đánh Phan Văn Lợi, sau khi xảy ra sự việc đã thất lạc. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy, do vậy không đề cập đến.

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ ghi lại cảnh đánh nhau do camera an ninh của quán bida Phan Lợi ghi lại.

-Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST, bị cáo Lợi phải chịu án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Lợi trình bày bài bào chữa: Bị cáo Phan Văn Lợi quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra, người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình bị cáo có nhân thân tốt, có ông nội là Phạm Văn Thanh được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba được tổ quốc ghi công là liệt sỹ, do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, e, s khoản 1, 2 điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Văn Lợi từ 02 đến 03 năn tù nhưng cho hưởng án treo.

Người bào chữa cho bị cáo K’ Sĩ trình bày bài bào chữa: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thật thà khai báo ăn năn hối cải, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, bị cáo là người đồng bào dân tộc, có ông ngoại là là bệnh binh nên được áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K’ Sỹ

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bảo Lâm, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có cơ sở xác định

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 05/11/2023 tại thôn 01, xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, bị cáo K’ Quỳnh, K’ Sĩ, Ka Hên đến quán bida Phan Lợi chửi bới, xô xát; K’ Quỳnh, K’ Sĩ dùng hung khí đánh người khác gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội và ảnh hưởng đến việc kinh doanh của người khác. Cùng thời điểm này, bị cáo Phan Văn Lợi dùng kéo (là hung khí nguy hiểm) đâm K’ Quỳnh, gây thương tích 56%. Hành vi của các bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, đến trật tự an ninh xã hội và các hoạt động, nguyên tắc an toàn nơi công cộng.

Do vậy hành vi của bị cáo Phan Văn Lợi có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo K’ Sỹ, K’ Quỳnh có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Ka Hên có đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1 điều 318 Bộ luật hình sự.

Chính vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm truy tố bị cáo Phan Văn Lợi về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 điều 134 Bộ luật hình sự; bị cáo K’ Sĩ, K’ Quỳnh về tội “Gây rối trật tự công cộng ” theo điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự; bị cáo Ka Hên về tội “Gây rối trật tự công cộng ” theo khoản 1 điều 318 Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương và các hoạt động, nguyên tắc an toàn nơi công cộng, gây hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm nhưng vẫn cố tình vi phạm, do vậy cần phải xử phạt nghiêm các bị cáo tương ứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cân nhắc xét xét đến hành vi, nhân thân và sự khắc phục hậu quả của của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ: Đối với bị cáo Phan Văn Lợi quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, người bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt, người bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo có ông nội là Phạm Văn Thanh được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba được tổ quốc ghi công là liệt sỹ do đó cần áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng điểm e khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lợi.

Đối với bị cáo K’ Sĩ, K’ Quỳnh quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả có ông ngoại là K’ Chim là bệnh binh do đó cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Đối với bị cáo Ka Hên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả có ông ngoại là K’ Chim là bệnh binh do đó cần áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Lợi được áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự nên xem xét áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lợi.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hội đồng xét xử thấy rằng cần phải cách ly bị cáo Phan Văn Lợi ra khỏi xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với bị cáo K’ Sỹ, K’ Quỳnh, Ka Hên có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, do đó không cần thiết xử phạt tù giam mà cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục theo qui định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng đủ để răn đe giáo dục các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phan Văn Lợi đã bồi thường cho K’Sĩ số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho K’Quỳnh số tiền 148.000.000 đồng. K’Sĩ, K’Quỳnh và Ka Hên đã bồi thường cho Phan Văn Lợi số tiền 5.000.000 đồng. Tại phiên toà bị hại K’ Quỳnh yêu cầu bị cáo Lợi bồi thường thêm 3.000.000 đồng. Bị cáo Lợi đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, do vậy cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự công nhận sự thoả thuận tự nguyện bồi thường giữa bị cáo Phan Văn Lợi với người bị hại. Bị cáo Phan Văn lợi có trách nhiệm bồi thường cho K’ Quỳnh 3.000.000 đồng

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Do không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ:

+ 01 cây kéo bằng kim loại có tổng chiều dài là 22,4cm; phần lưỡi kéo dài 11,4cm, chỗ rộng nhất của lưỡi kéo là 2,2cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ “MADE IN JAPAN SK5” và có bám dính vết màu đỏ (nghi là máu), mũi kéo nhọn; phần cán kéo bằng nhựa màu đỏ đen, dài 11cm, rộng 10cm.

+ 01 cây cơ bida bằng gỗ có tổng chiều dài 144,7cm, phần cán màu nâu đỏ, phần ngọn màu xanh xám; một đầu có đường kính là 1,2cm, một đầu có đường kính là 3cm.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 71,5cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,5cm bị vỡ nứt.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu đỏ, dài 75cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm bị vỡ khuyết.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu trắng, dài 72cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh, dài 72,3cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xám đen, dài 73cm; một đầu có đường kính là 1,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng gỗ.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 73,8cm; một đầu có đường kính là 1,1cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh xám, dài 73,2cm; một đầu có đường kính là 1,7cm; một đầu có đường kính là 2,2cm.

Đối với chiếc ghế nhựa màu đỏ K’Quỳnh sử dụng để đánh bị cáo Phan Văn Lợi, sau khi xảy ra sự việc đã thất lạc. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy, do vậy không đề cập đến.

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ ghi lại cảnh đánh nhau do camera an ninh của quán bida Phan Lợi ghi lại.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm thấy rằng: Mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp với nhân thân và tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

Các vấn đề khác: Đối với Phan Văn Thắng đã có hành vi dùng cơ bi-da tấn công K’Quỳnh và K’Sĩ. Tuy nhiên Thắng là anh ruột của bị cáo Lợi, được bị cáo Lợi nhờ trông quán bi-da giúp bị cáo Lợi, do thấy K’Quỳnh và K’ Sĩ đánh và chửi bới bị cáo Lợi nên Thắng mới có hành vi nêu trên. Hành vi của Thắng chỉ là do bộc phát cá nhân, không có bàn bạc với bị cáo Lợi về việc đánh K’ Quỳnh và K’ Sĩ; khi thấy Lợi cầm kéo trên tay, Thắng đã khuyên bị cáo Lợi, nên hành vi của Thắng và bị cáo Lợi trong vụ án là độc lập với nhau, không phải là đồng phạm. Việc bị cáo Lợi dùng kéo gây thương tích cho K’ Sĩ và K’ Quỳnh là ý muốn chủ quan của bị cáo Lợi nên Thắng không phải chịu trách nhiệm về hậu quả đối với thương tích của K’Quỳnh và K’Sĩ do bị cáo Lợi gây ra. Do Thắng đánh K’Sĩ và K’Quỳnh không gây thương tích nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm không truy cứu trách nhiện hình sự đối với Thắng về tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng quy định.

Khi Phan Văn Thắng cầm cơ bi-da lao từ hiên của quán bi-da Phan Lợi ra đường liên thôn giơ cây bi-da vụt về phía K’Quỳnh thì bị trượt chân té ngã, sau đó Thắng đứng dậy chạy dọc theo mép đường bên phải (theo hướng thôn 10 xã Lộc Nam đi thôn 2 xã Lộc Nam) chạy về hướng thôn 2 xã Lộc Nam. Vị trí Thắng đứng ở đường liên thôn cầm cơ bi-da đánh K’Quỳnh cách mép hiên quán bi-da (tức cách mép đường bên phải theo hướng thôn 10 xã Lộc Nam đi thôn 2 xã Lộc Nam) là 0,6m. Sau đó Thắng đứng dậy chạy dọc theo mép đường về hướng thôn 2 xã Lộc Nam, chạy được một đoạn khoảng 12,5m thì Thắng dừng lại, vị trí Thắng dừng lại cách mép đường bên phải theo hướng thôn 10 xã Lộc Nam đi thôn 2 xã Lộc Nam khoảng 0,6m, vị trí này nằm ngoài vùng ghi nhận của camera an ninh, khi Thắng bỏ chạy về hướng thôn 2 xã Lộc Nam. Từ vị trí dừng lại Thắng thấy Lợi và Quỳnh xảy ra xô xát, Thắng thấy Lợi dùng kéo đâm vào bụng Quỳnh, còn Quỳnh thì dùng cơ bi-da tấn công Lợi nên Thắng xông đến giằng co cây cơ bi-da với Quỳnh (nhưng không đánh Quỳnh). Các bên đều xác định vị trí Quỳnh và Lợi xô xát rồi Thắng xông vào giằng co cây cơ bi-da với Quỳnh cách mép hiên quán bi-da Phan Lợi là 3,4m.

Kết quả điều tra bổ sung xác định hành vi của Phan Văn Thắng trong vụ án trên không đủ yếu tố cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Bảo Lâm không khởi tố đối với Phan Văn Thắng là phù hợp.

Phan Văn Lợi gây thương tích cho K’ Sĩ 08%; K’Sĩ đã viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. K’ Quỳnh, K’ Sĩ gây thương tích cho Phan Văn Lợi 03% Phan Văn Lợi viết đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Do vậy cơ quan điều tra không xử lý hành vi trên là đúng quy định.

Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án cần buộc bị cáo Phan Văn Lợi, K’ Sĩ, K’ Quỳnh, Ka Hên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST. Bị cáo Phan Văn Lợi phải nộp 300.000 đồng án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phan Văn L phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Các bị cáo K’ S, K’ Q, Ka H phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng điểm a khoản 1 điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phan Văn L 36 ( Ba mươi sáu ) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo K’ S 24 ( Hai mươi bốn ) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 ( Bốn mươi tám ) tháng tính từ ngày 25/11/2024.

Xử phạt bị cáo K’ Q 24 ( Hai mươi bốn ) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 ( Bốn mươi tám ) tháng tính từ ngày 25/11/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 318; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo K’ H 09 ( Chín ) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 ( Mười tám ) tháng tính từ ngày 25/11/2024.

Giao bị cáo K’ Sĩ, K’ Quỳnh, Ka Hên cho UBND xã Lộc Nam, huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án thực hiện theo qui định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự.

Công nhận sự thoả thuận tự nguyện bồi thường giữa bị cáo Phan Văn Lợi với K’ Quỳnh.

Bị cáo Phan Văn Lợi có trách nhiệm bồi thường cho K’ Quỳnh 3.000.000 ( Ba triệu ) đồng.

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án ) cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây kéo bằng kim loại có tổng chiều dài là 22,4cm; phần lưỡi kéo dài 11,4cm, chỗ rộng nhất của lưỡi kéo là 2,2cm, trên lưỡi kéo có dòng chữ “MADE IN JAPAN SK5” và có bám dính vết màu đỏ (nghi là máu), mũi kéo nhọn; phần cán kéo bằng nhựa màu đỏ đen, dài 11cm, rộng 10cm.

+ 01 cây cơ bida bằng gỗ có tổng chiều dài 144,7cm, phần cán màu nâu đỏ, phần ngọn màu xanh xám; một đầu có đường kính là 1,2cm, một đầu có đường kính là 3cm.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 71,5cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,5cm bị vỡ nứt.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu đỏ, dài 75cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm bị vỡ khuyết.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu trắng, dài 72cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh, dài 72,3cm; một đầu có đường kính là 3,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xám đen, dài 73cm; một đầu có đường kính là 1,2cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng gỗ.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu nâu, dài 73,8cm; một đầu có đường kính là 1,1cm; một đầu có đường kính là 2,2cm có phần ren nối bằng kim loại.

+ 01 đoạn cơ bida bằng gỗ, màu xanh xám, dài 73,2cm; một đầu có đường kính là 1,7cm; một đầu có đường kính là 2,2cm.

(Vật chứng trên theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 23/7/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm với Công an huyện Bảo Lâm ).

Lưu theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ ghi lại cảnh đánh nhau do camera an ninh của quán bida Phan Lợi ghi lại.

4. Về án phí, lệ phí Tòa án: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án buộc bị cáo Phan Văn Lợi, K’ Sĩ, K’ Quỳnh, Ka Hên mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST. Bị cáo Phan Văn Lợi phải nộp 300.000 đồng án phí DSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày 25/11/2024 để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

(Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan).

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ