vanban.org

Bản án 99/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Kiến An, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường X phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án Nguyễn Trường X - Sử dụng tài liệu giả của CQTC - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài l…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự,
  • Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HS-ST
Ngày 08-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lã Anh Tuấn

Bà Trần Thị Trúc Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Hoàng Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kiều Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Kiến An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Trường X, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Nguyễn Thị H và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/4/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Trường X có nhu cầu muốn chuyển sang bộ phận lái xe của Công ty cổ phần Đ có địa chỉ tại K, Quốc lộ E, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng (vì trước đó X đã làm tại bộ phận bốc xếp hàng hóa và phụ xe của Công ty) nên X đã sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook có tên “Nguyen Truong X1” truy cập vào trang facebook có tên “Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe” để giao dịch mua 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C với giá 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. X đã cung cấp thông tin cá nhân gồm: Họ và tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, ảnh chân dung cho trang facebook trên qua ứng dụng Messenger rồi được người bán (chưa xác định nhân thân lai lịch) hẹn giao giấy phép lái xe qua người vận chuyển và thu tiền trực tiếp. Khoảng 03 ngày sau khi giao dịch, X nhận được 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên Nguyễn Trường X và trả tiền trực tiếp cho người giao hàng. Đến khoảng 15 giờ ngày 22/12/2023, theo sự điều động của Công ty Đ, X được điều khiển xe ô tô Biển kiểm soát: 15C-272.57 chở hàng (bông đệm) từ Công ty đến các đại lý bán hàng ở đường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Khi đến khu vực trước số nhà B đường P, phường N, quận K, thành phố Hải Phòng thì bị Tổ công tác đội Cảnh sát giao thông Công an quận K kiểm tra hành chính đồng thời thu giữ: 01 giấy phép lái xe ô tô số 300212008862 hạng C mang tên Nguyễn Trường X, sinh ngày 21/8/1983, trú tại: Xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương, ngày cấp: 18/8/2021, nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh H; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát: 15C-272.57 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ôtô 15C-272.57 đều mang tên Công ty cổ phần Đ. Sau đó Tổ công tác đã chuyển toàn bộ giấy tờ, xe ô tô trên cùng đối tượng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K để giải quyết theo thẩm quyền.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã tiến hành giám định đối với 01 giấy phép lái xe ô tô số 300212008862 hạng C mang tên Nguyễn Trường X.

Tại Kết luận giám định số 80/KL-KTHS ngày 15/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “01 Giấy phép lái xe số 300212008862; Hạng: C; Họ tên: NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN; Ngày sinh: 21/8/1983; Quốc tịch: Việt Nam; nơi cư trú: Thôn T, X.K, H. K, T. H; ghi ngày cấp: 18/08/2021 và ghi nơi cấp: Sở Giao thông vận tải tỉnh H do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận K, TP Hải Phòng gửi giám định là giả.”

Tại bản cáo trạng số 102/CT- VKSKA ngày 22/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng đã truy tố Nguyễn Trường X về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố Nguyễn Trường X phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội và xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-27257; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát: 15C-272.57 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 15C-272.57 đều mang tên Công ty cổ phần Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã trả lại cho Công ty nên không phải xử lý.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300212008862 mang tên Nguyễn Trường X được đánh số bút lục trong hồ sơ vụ án.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo rất ăn năn, hối cải về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được cải tạo tại xã hội, vì bị cáo còn phải lao động kiếm tiền nuôi mẹ già bị tai biến liệt nửa người, vợ thường xuyên đau ốm và 03 con nhỏ; bản thân bị cáo đã hiến 01 thận phải nên ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và phải dùng thuốc hỗ trợ hàng ngày; bị cáo hứa sẽ cải tạo tốt để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 22/12/2023 tại tuyến đường P, quận K, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Trường X vi phạm giao thông và đã có hành vi sử dụng tài liệu giả là 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C mang tên mình để xuất trình cho Tổ công tác Đội cảnh sát giao thông Công an quận K trong quá trình tuần tra, kiểm sát trong lĩnh vực giao thông đường bộ, lừa dối cơ quan, tổ chức. Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào số lượng tài liệu giả bị cáo sử dụng và các tình tiết khác của vụ án xác định bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện Kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, của tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính của Nhà nước, của tổ chức về con dấu, tài liệu nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Năm 2022, bị cáo đã có nghĩa cử cao đẹp là hiến thận phải của mình cho người khác; vì vậy, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Xét nhân thân bị cáo thấy ngoài việc phạm tội lần này bị cáo chấp hành tốt các quy định của pháp luật và thực hiện tốt nghĩa vụ của công dân tại nơi cư trú.

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây nên, căn cứ quy định pháp luật hình sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy không cần bắt bị cáo phải cách ly xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại xã hội cũng đủ tác dụng riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải cải tạo không giam giữ một thời gian đủ để bị cáo cải tạo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Xét bị cáo bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Nhưng bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Căn cứ vào tính chất mức, độ phạm tội và hoàn cảnh của bị cáo, Hội đồng xét xử phạt tiền bị cáo mức thấp nhất là 5.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô tải biển kiểm soát 15C-27257; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô Biển kiểm soát: 15C-272.57 và 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô 15C-272.57 đều mang tên Công ty cổ phần Đ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K đã trả lại cho Công ty nên không phải xử lý.

Đối với 01 giấy phép lái xe ô tô hạng C số 300212008862 mang tên Nguyễn Trường X được đánh số bút lục trong hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

Đối với Công ty cổ phần Đ khi tuyển dụng X làm lái xe và giao cho X điều khiển xe ô tô tải Biển kiểm soát số 15C-272.57 đi giao hàng, Công ty không biết việc X đã sử dụng giấy phép lái xe giả nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với người sử dụng trang mạng xã hội facebook tên “Trung tâm đào tạo sát hạch lái xe” có hành vi Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nhưng chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với người giao giấy phép lái xe giả cho X hiện chưa xác minh được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào khoản 1 Điều 341, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường X phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện K, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án.

Giao Nguyễn Trường X cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Gia đình bị cáo Nguyễn Trường X có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.

Bị cáo không được xuất cảnh trong thời gian cải tạo không giam giữ.

2. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Trường X số tiền là 5.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm triệu đồng).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

Bị cáo Nguyễn Trường X phải nộp 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ