- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Sông T - phạm tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng (điều 178 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sông T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 99/2024/HS-ST Ngày 31-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN- TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Ngọc và bà Đinh Thị Tin
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Tiến Đạt- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Tăng Bá Thắng- kiểm sát viên
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2024 Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sông T. Tên gọi khác: Không, sinh năm 1984; tại: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương
ĐHKTT: Thôn L, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: Khu dân cư Lưu Thượng 1, phường Hiệp An, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; không có vợ.
Con ông: Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị N
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-9-2024, đến ngày 15-9-2024 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương.
- Người làm chứng:
Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1992
Chị Chu Thị T3, sinh năm 1991
Anh Phạm Trung Hiếu, sinh năm 1983
(bị cáo có mặt, những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05-9-2024 Nguyễn Sông T đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực phường Quán Toan, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy tổng hợp (ma túy đá) về sử dụng. Tại đây Tgặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua được 01 túi ma túy đá với giá 350.000 đồng. Sau đó Tđi về phòng trọ số 3 nhà số 22 Hoàng Ngân, phường Hiệp An, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương (nhà Tthuê của bà Phạm Thị Thêu). Lúc này trong phòng có Nguyễn Văn Thùy, sinh năm 1992 (địa chỉ: Khu 3 phường phú Thứ, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương) là bạn của Tđến chơi và ngủ lại. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày Tlấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy “đá” của Tchuẩn bị từ trước ra, rồi đổ hết số ma túy mua được vào trong cóong thủy tinh. Tsử dụng trước rồi đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho Thùy cùng sử dụng. Thùy đồng ý sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong T2 và T đi ngủ.
Đến khoảng 11 giờ ngày 06-9-2024 Tvà Thùy ngủ dậy thì có Chu Thị T3, sinh năm 1991 (địa chỉ: Xã Đại Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương) đến chơi. Tlại mời T3 cùng sử dụng ma túy. T3 đồng ý. Sau đó T cùng Thùy và T3 thay nhau sử dụng hết số ma túy trong coóng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì Tổ công tác thuộc phòng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên giường trong phòng trọ của Tbộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa màu trắng cao 20cm, nắp chai được đục hai lỗ nhỏ một lỗ cắm ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 30cm, một lỗ cắm cóong thủy tinh màu trắng dài khoảng 10cm, bên trong bầu cóng có chứa bám dính chất muội đen và 01 bật lửa gas màu xanh. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Tại kết quả kiểm tra ma túy do Trạm y tế phường Nguyễn Trãi tiến hành đối với Nguyễn Sông T, Nguyễn Văn T2, Chu Thị T3 thể hiện các đối tượng đều dương tính với chất ma túy MET (Methamphetamine).
Tại Kết luận giám định số 397/KL-KTHS ngày 08-9-2024 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu chất muội đen bám dính bên trong bầu cóong thủy tinh, được niêm phong ký hiệu T gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định khối lượng.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS-KM ngày 29-11-2024,Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn truy tố bị cáo Nguyễn Sông Tvề tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Sông T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Sông Tphạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.Áp dụng: điểm a,b khoản 2 Điều 255, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sông T08 năm 01 tháng tù đến 08 năm 6 tháng tù thời hạn tính từ ngày 06-9-2024.
2.Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
3.Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu cho tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, trên nắp có gắn 01 cóong thủy tinh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 bật lửa gas; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Nguyễn Sông Tphải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Sông Tthành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 05-9-2024, tại phòng trọ số 3 nhà số 22 Hoàng Ngân, phường Hiệp An, thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Sông Tđã có hành vi chuẩn bị công cụ, ma túy loại Methamphetamine và mời Nguyễn Văn Thùy sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 06-9-2024 Nguyễn Sông Tlại tiếp tục mời Thùy và Chu Thị T3 sử dụng ma túy. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày thì bị tổ Công tác Công an tỉnh Hải Dương bắt quả tang thu giữ cùng vật chứng nêu trên.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Do vậy hành vi của bị cáo Nguyễn Sông T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn truy tố bị cáo đối với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
.Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về hành vi của mình. Do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt: Khi xem xét đánh giá hình phạt cũng cần đánh giá về nhân thân bị cáo hoàn cảnh điều kiện phạm tội của bị cáo. Bị cáo là người trực tiếp đi mua ma tuý về để sử dụng. Bị cáo còn pha chế mời Thùy, T3 sử dụng ma tuý cùng. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự nhưng hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng. Do vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự để giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
. Về vật chứng:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, 01 cóong thủy tinh, 01 bật lửa gas màu xanh, 01 chai nhựa màu trắng, 01 ống nhựa màu trắng là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội và là vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sông Tbị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong vụ án này đối với Nguyễn Văn Thùy, Chu Thị T3 quá trình điều tra Thùy và T3 cùng xác định được Tmời sử dụng ma túy, không biết Tmua, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, không mời người khác sử dụng ma túy nên không cấu thành tội phạm. Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Công an thị xã Kinh Môn đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Thương,Thùy, T3 theo quy định.
Đối với bà Phạm Thị Thêu cho Tthuê phòng trọ, bà không biết T cùng người khác sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng. Do vậy cơ quan điêu tra không đặt ra việc xử lý đối với bà Thêu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sông T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2.Xử phạt bị cáo Nguyễn Sông T 8 (tám) năm tù, thời hạn tính từ ngày 06-9-2024.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
4. Về vật chứng:
-Tịch thu cho tiêu huỷ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng; 01 cóong thủy tinh, 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng, 01 bật lửa gas màu xanh; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật được niêm phong trong phong bì thư dán kín số 379/KL-KTHS và 01 hộp bìa catton niêm phong kí hiệu T.
( Tình trạng cụ thể của vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kinh Môn với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn ngày 27 tháng 12 năm 2024).
5.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Sông Tphải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thị xã Kinh Môn; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Cơ quan điều tra- Công an thị xã Kinh Môn; - Cơ quan Thi hành án hình sự- Công an thị xã Kinh Môn; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn (khi bản án có hiệu lực pháp luật); - Lưu: hồ sơ, Tòa án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Thành- Vũ Thị Linh HỘI THẨM NHÂN DÂN Phạm Thị Chuộng – Đinh Thị Tin | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nguyệt |