vanban.org

Bản án 99/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Tống Văn D.

Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh Tống Văn D cấp dưỡng. Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Tống Văn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Tống Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẤP VÒ
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25-12-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quan Nam;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phượng

2. Bà Chung Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Khánh Tâm là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024, về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 285/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 62/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02/12/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị N, sinh năm 1979; Địa chỉ: 1, ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt tại phiên tòa).

- Bị đơn: Anh Tống Văn D, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số A, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/7/2024 cũng như trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Phạm Thị N trình bày: Chị N và anh D tự nguyện cưới nhau vào năm 1998, đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận kết hôn số 120/2005. Sau khi kết hôn, chị N và anh D sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn là do chị N và anh D bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi vã. Tuy nhiên, chị N và anh D vẫn cố gắng duy trùy hôn nhân và tìm cách cải thiện những mâu thuẫn trên, nhưng không kết quả, cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn nhiều và thật sự xa nhau từ đầu năm 2024 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm đến ai, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh D.

Quá trình sống chung chị N và anh D không tài sản chung, không nợ chung, có 02 con chung tên Tống Hoài V, sinh ngày 20/6/1999 (đã trưởng thành) và Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018 hiện do chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018, chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Đối với Tống Hoài V, sinh ngày 20/6/1999 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Tống Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp và các phiên hòa giải, cũng như không có bản ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị N.

- Ý kiến của Kiểm sát viên: + Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán chấp hành đúng quy định của pháp luật. + Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật, bị đơn trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. + Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Tống Văn D.Giao con chung tên Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Việc chị Phạm Thị N xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa chị N và anh D thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, quy định tại Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do anh D có địa chỉ cư trú tại số A, ấp H, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Tống Văn D đã được triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng anh D vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Tống Văn D.

Về hôn nhân:

Việc chị Phạm Thị N và anh Tống Văn D đăng ký kết hôn vào ngày 27/9/2005 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận kết hôn số 120, ngày 27/9/2005, đã tuân thủ quy định tại khoản 1 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được Tòa án công nhận là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, lẽ ra chị N và anh D phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, chị N và anh D đã không làm được điều đó, chỉ vì chị N và anh D bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau dẫn đến vợ chồng sống xa nhau từ đầu năm 2024 đến nay mỗi người có một cuộc sống riêng không ai quan tâm cho ai. Hành động và việc làm của chị N và anh D đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, dẫn đến chị N không còn chung sống với anh D từ đầu năm 2024 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, chị N yêu cầu được ly hôn với anh D. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa anh D đều vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án về yêu cầu của xin ly hôn của chị N.

Xét thấy hôn nhân giữa chị N và anh D đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu kéo dài sẽ không mang lại hạnh phúc cho nhau, nên yêu cầu xin ly hôn của chị N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên được chấp nhận và quyết định cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Tống Văn D.

Về nuôi con chung: Chị N và anh D có 02 con chung tên Tống Hoài V, sinh ngày 20/6/1999 (đã trưởng thành) và Tống Hoài T, sinh ngày 01/12/2018 hiện do chị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N yêu cầu được tiếp trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018, chị N không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Đối với Tống Hoài V, sinh ngày 20/6/1999 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết.

Xét thấy khi chị N và anh D xa nhau từ đầu năm 2024 đến nay, thì chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và chăm sóc con chung chu đáo, cháu Tống Hoài T phát triển bình thường về thể chất cũng như tinh thần và đã thắt chặt tình cảm mẹ con, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung tên Tống Hoài T cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Do anh D vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cũng như vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có văn bản yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.

Sau khi ly hôn, chị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, được quy định tại Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về chia tài sản: Chị Phạm Thị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Chị Phạm Thị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sựvàđiểm akhoản 5Điều27 của Nghịquyết số326/2016/UBTVQH14 ngày30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị N với anh Tống Văn D.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung tên Tống Hoài T, sinh ngày 07/12/2018 cho chị Phạm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh Tống Văn D cấp dưỡng.

Sau khi ly hôn, chị Phạm Thị N cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Tống Văn D trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.

4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.

5. Về án phí:

Chị Phạm Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015067 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.

6. Án xử công khai có mặt chị Phạm Thị N, chị N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối anh Tống Văn D có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án này hoặc bản án này được tống đạt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ