vanban.org

Bản án 99/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 23/07/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T về việc:

Hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Cập nhật sang tên GCNQSD đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T về việc:
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 168 Luật Đất đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 99/2024/HC-ST
Ngày: 23-7-2024
V/v khiếu kiện quyết định hành
chính về quản lý nhà nước trong lĩnh
vực đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

2. Bà Lê Thị Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 66/2024/TLST-HC ngày 19 tháng 3 năm 2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HC ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

,

- Người khởi kiện: Ông Võ Đình T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố C, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Bùi Văn L, sinh năm: 1989 (Có mặt) (theo hợp đồng ủy quyền ngày 25/3/2024).

Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T1 - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1966 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Bùi Văn L, sinh năm: 1989 (Có mặt)

Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Võ Đình T và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Bùi Văn L trình bày:

Ông Võ Đình T có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Phạm Thị N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng chứng thực vào ngày 19/9/2023. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T nộp hồ sơ đăng ký biến động nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 301, tờ bản đồ 19, diện tích 95,3m2 đất ở nông thôn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CG 298959 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp ngày 24/07/2017 và đã chỉnh lý biến động cho bà Phạm Thị N vào ngày 21/8/2017.

Tuy nhiên, đến ngày 02/10/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ trả lời hồ sơ của ông T bằng Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 về việc hồ sơ đăng ký biến động chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp bản đồ quy hoạch sử dụng đất tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, khi nào có ý kiến chỉ đạo mới thì Chi nhánh Văn phòng Đ sẽ thông báo và thực hiện hoàn tất việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị N sang tên ông T.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông T đối với thửa đất chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật, trong đó có quyền chuyển nhượng và quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Nay Chi nhánh văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị N sang tên ông Võ Đình T là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất được pháp luật bảo vệ, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.

Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

- Hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi Nhánh Văn Phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T.

- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ về việc giải quyết hồ sơ cập nhật biến động chuyển quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị N sang tên cho ông Võ Đình T theo quy định của pháp luật.

* Tại văn bản số 1233/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 26/4/2024, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo văn bản số 3556/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 17/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

* Tại văn bản số 3556/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 17/4/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:

Ngày 20/9/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T tại biên nhận số 2023-15175/TNHS.

Ông Võ Đình T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Phạm Thị N đối với thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19, diện tích 95,3m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 298959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/7/2017 cho ông Đoàn Việt C, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Phạm Thị N ngày 21/8/2017.

Thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 298959 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/7/2017 có lịch sử biến động như sau:

- Ông Đoàn Việt C nhận chuyển nhượng thửa đất số 28, tờ bản đồ số 19, diện tích 600m2 đất trồng cây lâu năm và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CA 298845 vào ngày 18/12/2015.

- Ông Đoàn Việt C được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất diện tích 286m2 từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CĐ 189863 ngày 09/6/2016 đổi với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 19, diện tích 286m2 đất ở tại nông thôn và Giấy chứng nhận số CĐ 189862 ngày 09/6/2016 đối với thửa đất số 276, tờ bản đồ số 19, diện tích 314m2 đất trồng cây lâu năm.

Ông Đoàn Việt C thực hiện tách thửa đất số 277, tờ bản đồ số 19, diện tích 286m2 đất ở tại nông thôn theo Giấy chứng nhận số CĐ 189863 ngày 09/6/2016 thành 03 (ba) thửa đất gồm các thửa đất số 300, 301 và 302; trong đó thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19, diện tích 95,3m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CG 298959 ngày 24/7/2017.

- Ngày 21/8/2017, Chi nhánh Văn phòng xác nhận cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Phạm Thị N thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19 theo Giấy chứng nhận số CG 298959 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/7/2017.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19 theo Giấy chứng nhận số CG 298959 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 24/7/2017 có nguồn gốc được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất diện tích 286m2 từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất (quy hoạch là đất nông nghiệp) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696/KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B”.

Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh. Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).

Như vậy, hiện nay Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 02/10/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Võ Đình T được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản số 3447/UBND-KSTTHC ngày 30/5/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Thửa đất mà ông Võ Đình T đăng ký chuyển quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 301 (diện tích 95,3m2), tờ bản đồ số 19, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CG 298959, số vào sổ cấp GCN: CS 04560 do Sở T cấp ngày 24/7/2017 cho ông Đoàn Việt C; sau đó, ông Đoàn Việt C chuyển nhượng sang cho bà Phạm Thị N được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chỉnh lý biến động vào ngày 21/8/2017 có nguồn gốc từ Giấy chứng nhận số CA 298845 do Sở Tài nguyễn và Môi trường cấp ngày 18/12/2015 cho ông Đoàn Việt C.

Liên quan đến nội dung này, ngày 10/5/2016, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 424/QĐ-UBND về việc cho phép ông Đoàn Việt C được chuyển mục đích sử dụng đất (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý thửa đất số 59-2016, tờ bản đồ số 19 (212 452-5(b)) do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 14/4/2016). Theo nội dung Quyết định cho phép ông Đoàn Việt C được chuyển sang sử dụng vào mục đích đất ở tại nông thôn với diện tích 286m2.

Tại Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 của UBND thành phố P về việc cho phép ông Đoàn Việt C được chuyển mục đích sử dụng đất thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ- UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 633/QĐ-UBND ngày 08/3/2016.

Qua đối chiếu vị trí khu đất cho chuyển mục đích (vị trí được thể hiện tại Mảnh chỉnh lý thửa đất số 59-2016, tờ bản đồ số 19 (212 452-5(b)) do Chi nhánh Văn phòng Đ ngày 14/4/2016) với Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ- UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 633/QĐ-UBND ngày 08/3/2016 thì vị trí khu đất xin phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất ở nông thôn, đất trồng cây lâu năm và đất trồng lúa.

Căn cứ điều 52 Luật Đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép ông Đoàn Việt C chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 là không phù hợp với Quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật.

Ngày 02/10/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T.

Do đó, đối với nội dung mà ông Võ Đình T yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.

UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền và lợi ích hợp pháp bà Phạm Thị N là ông Bùi Văn L trình bày: Thống nhất như phần trình bày của người khởi kiện. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện trình bày: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Võ Đình T, hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Luật Tố tụng hành chính.

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Ông Võ Đình T khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Võ Đình T theo đúng quy định pháp luật.

Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là khiếu kiện quyết định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo Điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T2

- Bộ N2 - Bộ T3 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân. Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 05/3/2024, ông Võ Đình T làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông T là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Diện tích đất có nguồn gốc do Ông Đoàn Việt C nhận chuyển nhượng được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CA 298845 ngày 18/12/2015 đối với thửa đất số 28, tờ bản đồ số 19, diện tích 600m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 09/6/2016, ông C tách thửa đất trên theo Quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và được cấp thành 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa đất số 277, tờ bản đồ số 19, diện tích 286m2 đất ở tại nông thôn được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 189863 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Sau đó, ông Đoàn Việt C lại tách thửa đất số 277, tờ bản đồ số 19, diện tích 286m2 đất ở tại nông thôn thành nhiều thửa đất và được cấp đổi thành nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19, diện tích 95,3m2 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất CG 298959 do Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh Bình Thuận cấp ngày 24/7/2017 mang tên ông Đoàn Việt C.

Sau khi tách thửa ông Đoàn Việt C chuyển nhượng thửa đất theo giấy chứng nhận số CG 298959 trên cho bà Phạm Thị N và được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động vào ngày 21/8/2017.

Ngày 19/9/2023, bà Phạm Thị N chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 301 nêu trên cho ông Võ Đình T theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 001789, quyển số 03/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1

Theo Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T thì việc trả hồ sơ đăng ký biến động của ông Võ Đình T là do vị trí thửa đất nêu trên có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp với quy hoạch đất ở theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định cho chuyển mục đích số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc ông Đoàn Việt C được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn đối với thửa đất số 277, tờ bản đồ số 19, diện tích 286m2, ông C đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 189863 cấp ngày 09/6/2016 mang tên ông Đoàn Việt C.

Mặc dù, tại văn bản số 3447/UBND-NC ngày 30/5/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến gửi cho Tòa án về nội dung khởi kiện của ông Võ Đình T cho rằng căn cứ vào Điều 52 Luật đất đai năm 2013 việc UBND thành phố P cho chuyển mục đích đất sang đất ở nông thôn tại quyết định số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 là không phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật. Tòa án có văn bản số 238/TABT-THC ngày 10/6/2024 yêu cầu Ủy ban nhân dân thành phố P cung cấp thông tin về việc cho chuyển mục đích đến nay đã thay đổi hoặc hủy bỏ không, nhưng đến nay Ủy ban nhân dân thành phố không có văn bản trả lời.

Tại phiên tòa ông T cung cấp thêm tài liệu chứng cứ là Ủy ban nhân dân thành phố P cấp giấy phép xây dựng có thời hạn số 687/GPXP ngày 27/11/2023 cho phép bà N được xây dựng nhà ở riêng lẻ, trên vị trí thửa đất số 301, tờ bản đồ số 19 tọa lạc tại thôn X, xã P, thành phố P.

Như vậy, tại thời điểm hiện nay thì quyết định cho chuyển mục đích số 424/QĐ-UBND ngày 10/5/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật và ban hành văn bản hủy bỏ hoặc thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật và hiện nay thửa đất số 301 nêu trên cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Việc bà Phạm Thị N chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Võ Đình T theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai là đúng quy định pháp luật. Ông Võ Đình T nhận quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai.

Do đó, việc bà Phạm Thị N1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Võ Đình T là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật nên thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.

Chi nhánh Văn phòng Đ trả hồ sơ đăng ký biến động của ông Võ Đình T tại thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Võ Đình T làm ảnh hưởng quyền lợi của ông T.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Võ Đình T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 191 của Luật Đất đai;

- Điều 60, Điều 61, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đình T về việc:

- Hủy Thông báo số 1497/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 02/10/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Võ Đình T.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Võ Đình T số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000200 ngày 15/3/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ